Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHƢƠNG THỨC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP BẰNG TRỌNG TÀI THƢƠNG MẠI 1. KHÁI QUÁT VỀ TRỌNG TÀI THƢƠNG MẠI 1. Lƣợc sử hình thành và phát triển của trọng tài thƣơng mại Trên thế giới, phương thức GQTC bằng trọng tài ra đời và phát triển rất sớm. Hình thái đầu tiên về trọng tài có thể bắt nguồn từ các quốc gia thành bang cổ Hy Lạp, La Mã.
Dần dần, cùng với sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa, các nước đã thừa nhận địa vị pháp lý của trọng tài. Trong hệ thống pháp luật của Vương quốc Anh, phương thức GQTC bằng trọng tài được ghi nhận lần đầu tiên trong Luật trọng tài năm 1697. Từ đầu thế kỷ XX, các nước, trong đó có Cộng hòa Pháp và Hợp chủng quốc Hoa Kỳ đã bắt đầu thông qua các Đạo luật trọng tài. Ở Việt Nam, trọng tài lần đầu tiên được ghi nhận trong Nghị định số 20/TTg ngày 14/11/1960 của Thủ tướng Chính phủ về tổ chức trọng tài kinh tế Nhà nước (Nghị định số 20/TTg).
Theo Nghị định số 20/TTg, Trọng tài kinh tế cấp Trung ương, khu, thành phố, tỉnh và bộ với chức năng yếu là xử lý các tranh chấp hợp đồng kinh tế. Tiếp đó, Nghị định số 75-CP của Hội đồng Chính Phủ ngày 14/4/1975 ban hành Điều lệ tổ chức và hoạt động của trung tâm trọng tài kinh tế Nhà nước (Nghị định số 75-CP); Quyết định số 263-TTg ngày 28/7/1979 của Thủ tướng Chính phủ quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Hội đồng trọng tài kinh tế tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (Quyết định số 263-TTg). Đến Nghị định số 24/HĐBT ngày 10/8/1981 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) (Nghị định số 24/HĐBT), tên gọi của Hội đồng trọng tài kinh tế được thống nhất tên gọi là trọng tài kinh tế, cụ thể, 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hội đồng trọng tài kinh tế Nhà nước cấp Trung ương gọi là Trọng tài kinh tế Nhà nước, Hội đồng trọng tài kinh tế cấp Bộ, Tổng cục gọi là Trọng tài kinh tế Bộ, Tổng cục, Hội đồng trọng tài kinh tế cấp tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương gọi là Trọng tài kinh tế tỉnh, thành phố, đặc khu. Ngày 17/4/1984, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã ban hành Nghị định số 62-HĐBT quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Trọng tài kinh tế bộ, tỉnh và huyện (Nghị định số 62-HĐBT).
Theo đó có thêm một cấp trọng tài kinh tế nữa đó là trọng tài kinh tế huyện. Đến ngày 10/01/1990, Hội đồng Nhà nước (nay là Ủy ban Thường vụ Quốc hội) đã ban hành Pháp lệnh trọng tài kinh tế. Theo Pháp lệnh, trọng tài kinh tế là cơ quan GQTC hợp đồng kinh tế, xử lý vi phạm pháp luật hợp đồng kinh tế và thực hiện quản lý nhà nước về chế độ hợp đồng kinh tế theo quy định của pháp luật. Về tổ chức, trọng tài kinh tế gồm có: trọng tài kinh tế Nhà nước, trọng tài kinh tế tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và cấp tương đương, trọng tài kinh tế huyện, quận và cấp tương đương.
Như vậy, theo Pháp lệnh trọng tài kinh tế, trọng tài kinh tế cấp Bộ, Tổng cục đã không còn tồn tại. Có thể thấy, với Nghị định số 20/TTg, trọng tài kinh tế chỉ là cơ quan nhà nước có chức năng chủ yếu là xử lý các vi phạm hợp đồng kinh tế, đến Nghị định số 75-CP, Nghị định số 62/HĐBT, và Pháp lệnh trọng tài kinh tế, trọng tài đã phát triển thêm chức năng là thực hiện quản lý nhà nước về chế độ hợp đồng kinh tế. Cùng với sự phát triển của hoạt động kinh tế nói chung, hợp đồng kinh tế nói riêng, trọng tài kinh tế cũng có những bước phát triển nhất định và ngày càng mở rộng, được các bên tranh chấp biết đến nhiều hơn. Khi đất nước bắt đầu bước thực hiện phương thức kinh tế mới, sự tồn tại của trọng tài kinh tế với chức năng là một cơ quan có chức năng quản lý nhà nước không còn phù hợp.
Sự phát triển của nền kinh tế, dẫn đến các tranh chấp phát sinh ngày càng đa dạng và phức tạp, với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế, nhiều lĩnh vực khác nhau. Vì vậy, phương thức GQTC 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cũng yêu cầu phải đổi mới để phù hợp với sự thay đổi của các tranh chấp. Trước yêu cầu này, từ ngày 28/12/1993, với Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, thì Tòa kinh tế chuyên trách được hình thành trong hệ thống Tòa án nhân dân để giải quyết các tranh chấp kinh tế. Đồng thời, hệ thống trọng tài kinh tế được giải thể.
Trước những đòi hỏi khách quan về đa dạng hóa các hình thức và phương thức GQTC trong kinh doanh phù hợp với đặc điểm của phương thức thị trường, cũng như góp phần đẩy nhanh quá trình hội nhập quốc tế, ngày 05/09/1994, Chính phủ đa ban hành Nghị định số 116-CP về tổ chức và hoạt động của các trung tâm trọng tài kinh tế (Nghị định số 116-CP). Theo các quy định của Nghị định này, Trọng tài kinh tế thực sự được xác định là một tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tức là tổ chức phi chính phủ có thẩm quyền giải quyết một số tranh chấp theo quy định, hoàn toàn tách rời với chức năng quản lý nhà nước như trước đây. Sau gần 10 năm thực hiện Nghị định 116-CP, đã có 6 trung tâm trọng tài được thành lập với hơn 130 trọng tài viên. Tuy nhiên, đánh giá một cách khách quan và khái quát thì trọng tài chưa thể hiện được vai trò của mình với chức năng là một cơ quan tài phán có vai trò hỗ trợ đắc lực cho Tòa án trong việc GQTC.
Nhằm khắc phục những hạn chế, tăng cường hiệu quả và năng lực của các trung tâm trọng tài và đội ngũ Trọng tài viên, ngày 25/02/2003, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh Trọng tài số 08/2003/PL-UBTVQH (Pháp lệnh TTTM 2003) và ngày 15/01/2004, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 25/2004/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh TTTM 2003. Có thể nói, Pháp lệnh TTTM 2003 đã mở rộng một cách đáng kể thẩm quyền cho trọng tài ở nước ta so với thẩm quyền của trọng tài theo Nghị định số 116-CP; quy định đầy đủ, rõ ràng về thỏa thuận trọng tài, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc trở thành trọng tài viên; ghi nhận hình thức trọng tài mới là trọng tài vụ việc; mở rộng thẩm quyền chọn trọng tài viên cho các bên tranh chấp; ghi nhận mối quan hệ chặt chẽ giữa trọng tài với tòa án; nâng cao vị thế của trọng tài bằng việc ghi nhận 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tính được cưỡng chế thi hành của các phán quyết trọng tài; quy định nhiều phương thức mới để đảm bảo cho việc thành lập các trung tâm trọng tài được chặt chẽ hơn, từ đó mà nâng cao chất lượng và uy tín của trung tâm trọng tài. Những quy định mới của Pháp lệnh TTTM 2003 thương mại đã tạo ra khả năng vô cùng to lớn cho sự phát triển của TTTM ở nước ta, giúp giải quyết nhanh chóng các tranh chấp thương mại, giảm bớt gánh nặng của cơ quan Tòa án… Đồng thời, cùng với các quy định pháp luật khác, pháp luật về trọng tài đã góp phần tạo nên một hệ thống pháp luật trong sạch, vững mạnh, phục vụ yêu cầu quản lý xã hội bằng pháp luật của Nhà nước. Như vậy, có thể nhận thấy tại Việt Nam trọng tài đã xuất hiện từ thời kỳ kinh tế kế hoạch hóa vào những năm đầu của thập kỷ 60 của thế kỷ XX dưới tên gọi là trọng tài kinh tế.
Trọng tài kinh tế khi đó có những đặc trưng phản ánh sự vận hành của phương thức kinh tế kế hoạch hóa, vừa mang chức năng quản lý và chức năng GQTC; do đó, trọng tài kinh tế ở Việt Nam thời đó không phải là tổ chức trọng tài theo đúng nghĩa. Chính sách đổi mới đã dẫn đến sự phát triển kinh tế thị trường, xây dựng nhà nước pháp quyền dẫn tới sự chấm dứt tồn tại của một số định chế đặc trưng cho kế hoạch hóa, trong đó có hợp đồng kinh tế và trọng tài kinh tế. Sự phát triển của kinh tế thị trường đã dẫn đến nhu cầu thành lập các trung tâm trọng tài phi chính phủ ở Việt Nam. Khái niệm trọng tài Trên phương diện quốc tế cũng như quốc gia, khi đề cập tới trọng tài, có rất nhiều cách tiếp cận cũng như quan điểm khác nhau, do đó, dẫn đến khái niệm về trọng tài cũng khác nhau.
Sự khác nhau này diễn ra trên phạm vi thế giới, thể hiện ở sự không giống nhau trong quy định pháp luật về trọng tài của các quốc gia, và trong phạm vi một quốc gia, thể hiện ở sự không thống nhất trong quan điểm về trọng tài của các chuyên gia pháp lý, các nhà nghiên cứu, hay các quy định pháp luật về trọng tài của quốc gia đó trong từng thời kỳ. 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Với cách tiếp cận trọng tài như một phương thức GQTC độc lập so với các phương thức khác như thương lượng, hòa giải, tòa án, có một số quan điểm cơ bản về trọng tài như sau: Trong Đại từ điển Kinh tế thị trường, trọng tài được định nghĩa: "Trọng tài là phương thức giải quyết hòa bình các vụ tranh chấp. Là chỉ đôi bên đương sự tự nguyện đem những sự việc, những vấn đề tranh chấp cho người thứ ba có tư cách công bằng chính trực xét xử, lời phán quyết do người này đưa ra có hiệu lực ràng buộc với cả hai bên" [15]. Theo định nghĩa này, trọng tài được hiểu là một phương thức GQTC, trong đó các bên cùng tự nguyện, thống nhất đệ trình tranh chấp tới trọng tài để giải quyết.
Tranh chấp sẽ được xét xử bởi một trọng tài viên theo quan điểm của các bên là có tư cách chính trực và phán quyết của trọng tài viên sẽ ràng buộc đối với các bên. Từ điển Luật của Oxford, định nghĩa trọng tài là: "Trọng tài có nghĩa là phán quyết về vụ tranh chấp được quyết định bởi một hoặc các bên thứ ba độc lập (các trọng tài viên) mà không phải là tòa án" [61]. Theo định nghĩa này, số lượng trọng tài viên tham gia giải quyết vụ tranh chấp có thể là một hoặc nhiều theo lựa chọn của các bên tranh chấp.