Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HIỆU LỰC CỦA THỎA THUẬN TRỌNG TÀI 1. Khái niệm và bản chất pháp lý của thỏa thuận trọng tài 1. Khái niệm và nguồn gốc của thỏa thuận trọng tài Luật mẫu về Trọng tài thương mại quốc tế của Ủy ban luật thương mại quốc tế về Liên hiệp quốc (sau đây gọi tắt là Luật Mẫu UNCITRAL) tại điều 7: “Thỏa thuận trọng tài là thỏa thuận mà các bên đưa ra trọng tài tất cả hoặc một số tranh chấp phát sinh hoặc có thể phát sinh giữa các bên trong quan hệ pháp lý xác định cho dù đó có là quan hệ hợp đồng hay không. Thỏa thuận trọng tài có thể dưới hình thức điều khoản trọng tài trong hợp đồng hoặc dưới hình thức thỏa thuận riêng”.
Theo Công ước New York 1958 về công nhận và thi hành quyết định của trọng tài nước ngoài (sau đây gọi tắt là Công ước New York) điều 2 thể hiện khái niệm về thỏa thuận trọng tài: “Mỗi Quốc gia thành viên sẽ công nhận một thỏa thuận bằng văn bản theo đó các bên cam kết đưa ra trọng tài xét xử mọi tranh chấp đã hoặc có thể phát sinh giữa các bên từ một quan hệ pháp lý xác định,dù là quan hệ hợp đồng hay không, liên quan đến một đối tượng có khả năng giải quyết được bằng trọng tài”. Luật Trọng tài thương mại 2010 (sau đây gọi tắt Luật TTTM) khoản 2 điều 3 định nghĩa: “Thỏa thuận trọng tài là thỏa thuận giữa các bên về việc giải quyết bằng trọng tài tranh chấp có thể phát sinh hoặc đã phát sinh” Từ những định nghĩa trên cho chúng ta thấy thỏa thuận trọng tài là nền tảng của tố tụng trọng tài thương mại, có vai trò hết sức quan trọng trong giải quyết tranh chấp bằng trọng tài. Vì vậy, các nước trên thế giới và cả Việt Nam đều ghi nhận vấn đề này rất rõ ràng cụ thể trong các văn bản pháp luật và qua 6 đó chúng ta có thể hiểu được khái niệm thỏa thuận trọng tài thương mại chính là sự thỏa thuận bằng văn bản, theo đó các bên tham gia ký kết thống nhất ý chí đưa một số hoặc tất cả những tranh chấp đã hoặc sẽ phát sinh từ các hoạt động kinh doanh thương mại được pháp luật cho phép giải quyết bằng phương thức trọng tài. Nguồn gốc của thỏa thuận trọng tài Như đã nêu trên, trong quá trình hoạt động kinh doanh thương mại thì tranh chấp hợp đồng là một dạng tranh chấp phổ biến nhất bởi nó là những mâu thuẫn (bất đồng hay xung đột) về quyền và lợi ích kinh tế giữa các chủ thể tham gia vào các quan hệ hợp đồng phát sinh trong hoạt động kinh tế.
Khái niệm tranh chấp hợp đồng trong hoạt động thương mại được nêu trong Luật thương mại năm 1997 dường như được quan niệm đồng nhất với “tranh chấp thương mại”, bởi theo định nghĩa tại điều 238 Luật thương mại 1997 thì tranh chấp thương mại là tranh chấp phát sinh do việc thực hiện hoặc thực hiện không đúng với hợp đồng trong hoạt động thương mại. Vì vây, khi có tranh chấp thương mại thì các bên có quyền tự định đoạt việc tham gia tranh chấp được pháp luật công nhận, tôn trọng, bảo vệ. Quyền định đoạt là cách thức giải quyết dựa trên nguyên tắc: Nhà nước không can thiệp (trừ trường hợp có đơn yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết). Điều này có nghĩa các bên tranh chấp có thể tự chọn lựa cách thức giải quyết tranh chấp và phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài là một trong các mô hình giải quyết tranh chấp phổ biến.
Nhưng để chọn lựa mô hình giải quyết tranh chấp này thì cần có thỏa thuận trọng tài và sự thỏa thuận đó xuất phát từ tự do ý chí, các bên có quyền tự định đoạt quyết định đến sự chọn lựa của mình như trong quan hệ dân sự, thương mại. Theo phương thức này, các bên có quyền thỏa thuận lựa chọn và khước từ tòa án, điều đó có thể hiểu nếu không có sự lựa chọn thỏa thuận gì thì mặc nhiên tòa án có thẩm quyền. Việc 7 các bên có quyền khước từ tòa án hay các bên không yêu cầu tòa án mà lựa chọn trọng tài giải quyết tranh chấp của mình đó là tư tưởng của tự do ý chí luật từ các bên chọn lựa rồi ghi nhận trong hợp đồng. Thỏa thuận trọng tài được quy định là một điều khoản nằm trong hợp đồng thương mại, là một bộ phận không thể tách rời của hợp đồng và có thể hình thành trong quá trình giao kết hợp đồng hoặc sau khi tranh chấp diễn ra và thỏa thuận này hoàn toàn độc lập với hợp đồng.
Như vậy, nguồn gốc của thỏa thuận trọng tài là từ mối quan hệ hợp đồng hay nói đúng hơn là từ hợp đồng khi có phát sinh tranh chấp trong hoạt động thương mại. Bản chất pháp lý của thỏa thuận trọng tài Tại điều 385 Bộ luật dân sự năm 2015 (viết tắt là BLDS) quy định: “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” và khỏan 2 điều 3 Luật trọng tài thương mại 2010: “Thỏa thuận trọng tài là thỏa thuận giữa các bên về việc giải quyết bằng trọng tài tranh chấp có thể phát sinh hoặc đã phát sinh” cho thấy hợp đồng và thỏa thuận trọng tài đều xuất phát từ yếu tố thỏa thuận của các bên tức là từ hai chủ thể trở lên chứ không phải của một cá nhân, một chủ thể. Sự thỏa thuận này đạt được giữa các bên phải trên cơ sở nguyên tắc tự do ý chí có nghĩa các bên đã có sự thống nhất ý chí. Nhưng phải chăng có sự khác biệt giữa hợp đồng và thỏa thuận trọng tài khi Bộ luật dân sự 2015 quy định nội dung sự thỏa thuận trong hợp đồng giữa các bên phải là việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự còn với thỏa thuận trọng tài thì không có quy định.
Thực chất tại chương 2 Luật trọng tài thương mại 2010 với tiêu đề “Thỏa thuận trọng tài” [22, tr. 17] đã mặc nhiên cho thấy có sự xác lập quyền và nghĩa vụ trong quan hệ trọng tài và có giá trị pháp lý khi các bên đã có thỏa thuận trọng tài, đồng thời nếu có tranh chấp phát sinh thì một bên không thể yêu cầu tòa án giải quyết nếu bên kia không chấp nhận. Đây chính 8 là nội dung mang tính chất ràng buộc pháp lý giữa các bên mà Luật trọng tài thương mại thể hiện. Như vậy, bản chất của thỏa thuận trọng tài đó chính là hợp đồng.
Mặt khác, thỏa thuận trọng tài chính là xác định thẩm quyền giải quyết tranh chấp mang tính hình thức (về mặt tố tụng), cho nên hiệu lực của thỏa thuận trọng tài không phụ thuộc vào hiệu lực của hợp đồng mà hoàn toàn độc lập với nội dung của hợp đồng thương mại. Nội dung của thỏa thuận trọng tài không giống như nội dung của hợp đồng , do đó thỏa thuận trọng tài không có mối quan hệ ràng buộc với nội dung hợp đồng. Thỏa thuận trọng tài chịu sự điều chỉnh bởi Luật trọng tài thương mại chứ không phải là Bộ luật dân sự và phải phù hợp với những điều kiện có hiệu lực của thỏa thuận trọng tài mà pháp luật quy định để tránh thỏa thuận trọng tài vô hiệu theo điều 18 Luật trọng tài thương mại năm 2010 [22, tr. Từ những phân tích trên cho thấy bản chất của thỏa thuận trọng tài chính là hợp đồng và dù nó là điều khoản của hợp đồng hay văn bản thỏa thuận riêng biệt đều có giá trị như nhau, và vì thỏa thuận trọng tài là hợp đồng cho nên thỏa thuận này luôn tồn tại độc lập, không phụ thuộc với nội dung của hợp đồng thương mại theo điều 19 Luật trọng tài thương mại 2010 [22, tr.
Như vậy, Thỏa thuận trọng tài thực chất là sự thống nhất ý chí của các bên tham gia tranh chấp, theo đó, thỏa thuận trọng tài đã xác lập hình thức giải quyết tranh chấp được thực hiên duy nhất là trọng tài. Đồng thời, nó cũng loại bỏ các khả năng giải quyết tranh chấp bằng những hình thức khác, thí dụ như tòa án. Ngoài ra, thỏa thuận trọng tài còn là tiền đề pháp lý để mở thủ tục giải quyết tranh chấp tại tổ chức trọng tài, xác lập thẩm quyền của trọng tài cũng như của Hội đồng trọng tài. Với tính là một thỏa thuận độc lập nên hiệu lực của thỏa thuận trọng tài 9 sẽ được xem xét theo nguyên tắc của hiệu lực hợp đồng.
Theo đó, hiệu lực của thỏa thuận trọng tài không lệ thuộc vào hiệu lực của hợp đồng thương mại. Bởi lẽ, những tiêu chí để xá định tính hiệu lực hay vô hiệu của thỏa thuận trọng tài là độc lập, được quy định riêng (luật chuyên ngành) trong Luật trọng tài thương mại. Vì vậy, thỏa thuận trọng tài có thể được thiết lập bằng một văn bản riêng hoặc kể cả sau khi tranh chấp kinh doanh, thương mại đã xuất hiện. Ý nghĩa của thỏa thuận trọng tài Thỏa thuận trọng tài là vấn đề cốt lõi đóng vai trò thiết yếu trong việc giải quyết các tranh chấp phát sinh bằng trọng tài trong hoạt động kinh doanh thương mại.
Điều này có nghĩa không có thỏa thuận trọng tài thì không có tố tụng trọng tài. Do đó, thỏa thuận trọng tài mang ý nghĩa rất quan trọng: Thứ nhất, thỏa thuận trọng tài là cơ sở để xác định thẩm quyền của trọng tài. Điều này có nghĩa khi xảy ra tranh chấp, giữa các bên có quyền thỏa thuận phương thức giải quyết bằng trọng tài hay tòa án và nếu như thỏa thuận trọng tài giải quyết thì mặc nhiên các bên gián tiếp thỏa thuận khước từ thẩm quyền xét xử của tòa án. Tuy thỏa thuận trọng tài buộc phải có sự thống nhất ý chí chọn lựa của các bên tranh chấp nhưng đó chỉ là điều kiện cần mà chưa đủ vì để thỏa thuận trọng tài có giá trị pháp lý, hiệu quả cao thì thỏa thuận đó cần tuân thủ đúng các qui định của pháp luật cùng với các điều kiện có hiệu lực khác như hình thức, nội dung.
Và khi thỏa thuận trọng tài có hiệu lực thì lúc đó trọng tài mới có thẩm quyền giải quyết tranh chấp còn tòa án phải từ chối thụ lý theo điều 6 Luật TTTM năm 2010 [22, tr.