Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TRỌNG TÀI THƢƠNG MẠI VÀ PHÁP LUẬT VỀ TRỌNG TÀI THƢƠNG MẠI 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TRỌNG TÀI THƢƠNG MẠI 1. Khái niệm trọng tài thƣơng mại Trong khoa học pháp lý, trọng tài đƣợc nghiên cứu dƣới nhiều bình diện khác nhau và do đó hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về trọng tài đƣợc ghi nhận. Định nghĩa sớm nhất về trọng tài đƣợc nêu trong Công ƣớc La-Hay năm 1988, theo đó: “Trọng tài là nhằm để giải quyết những bất đồng giữa các bên thông qua một người thứ ba do chính các bên lựa chọn trên cơ sở tôn trọng luật pháp”.
Tiếp đó, Hiệp định La-Hay 1907 qui định: “Trọng tài quốc tế có đối tượng giải quyết là những tranh chấp giữa các quốc gia qua sự can thiệp của những trọng tài viên do các quốc gia tranh chấp tự chọn và đặt trên cơ sở của sự tôn trọng luật pháp”. Tuy nhiên, hai cách định nghĩa này chỉ mới đƣa ra một cách diễn giải về hoạt động của trọng tài mà chƣa thấy đƣợc bản chất của sự việc. Theo giáo sƣ Ph.Farrchar thuộc trƣờng đại học Pans II thì: “Trọng tài là một phương thức giải quyết tranh chấp, theo đó các bên giao cho một cá nhân (trọng tài viên) thẩm quyền giải quyết tranh chấp phát sinh giữa họ với nhau”. Luật sƣ toà thƣợng thẩm Paris, Didier Skonicki định nghĩa ngắn gọn: “Trọng tài là toà án tư, do ý chí của đôi bên tranh chấp.
Nó cũng xét xử như toà án nhà nước” Trong cuốn “Từ điển kinh tế thị trƣờng từ A đến Z” trọng tài đƣợc định nghĩa “là một cách giải quyết bất đồng trong quan hệ công nghiệp mà không 8 z cần đưa ra pháp luật hay đình công”. Hay: “Trọng tài là những tranh chấp hay bất đồng được đưa ra cho một hoặc nhiều người được xem là công tâm, không thiên lệch quyết định và quyết định này có tính ràng buộc đối với hai bên”. Theo Hội đồng trọng tài Mỹ (AAA) – một tổ chức trọng tài đã có bề dày lịch sử hoạt động thì cho rằng: “Trọng tài là cách thức giải quyết tranh chấp bằng cách đệ trình vụ tranh chấp cho một số người khách quan xem xét giải quyết và họ sẽ đưa ra quyết định cuối cùng, có giá trị bắt buộc các bên tranh chấp phải thi hành”. Tại Việt Nam, theo quy định của khoản 1 Điều 2 Pháp lệnh trọng tài thƣơng mại năm 2003: “Trọng tài thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại được các bên thỏa thuận và được tiến hành theo trình tự, thủ tục do Pháp lệnh này quy định”.
Khi Luật trọng tại thƣơng mại năm 2010 đƣợc ban hành thì định nghĩa này đƣợc ghi nhận tại Khoản 1 Điều 3 nhƣ sau: “Trọng tài thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp do các bên thoả thuận và được tiến hành theo quy định của Luật trọng tài thương mại”. Mặc dù có rất nhiều định nghĩa khác nhau về trọng tài đƣợc nhìn từ những góc nhìn khác nhau, song tổng kết lại có thể thấy trọng tài đƣợc khái quát khá đầy đủ nhƣ sau: Trọng tài là phƣơng thức giải quyết tranh chấp có tính chất tài phán phi nhà nƣớc do các bên lựa chọn trên tinh thần tự nguyện, tôn trọng thỏa thuận của các bên nhằm mục đích giải quyết các tranh chấp thƣơng mại phát sinh giữa chính các bên này. Trong phƣơng thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài, tính tự định đoạt của các bên đƣợc coi là tối cao và luôn đƣợc coi trọng. Phƣơng thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài khá giống với phƣơng thức giải quyết tranh chấp bằng hòa giải.
Cả hai phƣơng thức này đều có sự xuất 9 z hiện của bên trung gian. Tuy nhiên, trong phƣơng thức hòa giải, vai trò của bên trung gian chỉ mang tính hỗ trợ, giúp đỡ các bên trong tranh chấp thỏa thuận với nhau. Còn trong phƣơng thức trọng tài, sau khi xem xét sự việc, trọng tài có thể đƣa ra phán quyết có giá trị chung thẩm, tức là cƣỡng chế thi hành đối với các bên. Một số đặc điểm của trọng tài thƣơng mại 1.
Trọng tài không phải là cơ quan tài phán đại diện cho quyền lực của nhà nước Trọng tài tuy là một cơ chế tài phán giúp giải quyết tranh chấp giữa các cá nhân, các tổ chức và giữa cá nhân với tổ chức trong xã hội, nhƣng lại là một loại hình tổ chức phi nhà nƣớc (tổ chức xã hội nghề nghiệp), hoạt động theo pháp luật và quy chế trọng tài riêng. Tuy trọng tài đƣợc ghi nhận là một thiết chế dân chủ trong giải quyết tranh chấp thƣơng mại nhƣng không phải là cơ chế tách biệt hoàn toàn đối với hoạt động của nhà nƣớc, mà trên hết trọng tài có vai trò hỗ trợ nhà nƣớc duy trì đƣợc sự ổn định trong xã hội, đặc biệt là duy trì đƣợc các mối quan hệ thƣơng mại. Trọng tài coi trọng sự tối thượng của thỏa thuận giữa các bên Từ việc các bên thỏa thuận nhƣ thế nào về việc chọn trọng tài làm phƣơng thức giải quyết tranh chấp, lựa chọn địa điểm giải quyết tranh chấp đến việc phán quyết của trọng tài đó đƣợc thực hiện ra sao chính là những biểu hiện cho thấy tính tối thƣợng của thỏa thuận giữa các bên trong phƣơng thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài. Về nguyên tắc, thẩm quyền của trọng tài không bị giới hạn bởi pháp luật; các bên trong tranh chấp có thể lựa chọn bất kỳ lúc nào, bất kỳ trọng tài vụ việc hoặc trọng tài quy chế nào trên thế giới để giải quyết tranh chấp của mình.
Sự thỏa thuận của các bên chính là yếu tố ràng buộc mỗi bên, nên, một khi đã đƣợc thỏa thuận thì phán quyết của trọng tài có tính chất tài phán và bắt buộc các bên phải tuân thủ. 10 z Phƣơng thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài bảo đảm quyền tự định đoạt của các đƣơng sự cao hơn so với phƣơng thức Tòa án, thể hiện cơ bản ở việc các đƣơng sự trong tố tụng trọng tài có quyền lựa chọn trọng tài viên, địa điểm giải quyết tranh chấp, quy tắc tố tụng, luật áp dụng đối với tranh chấp… 1. Tính chung thẩm của phán quyết trọng tài Pháp luật các nƣớc đều quy định phán quyết trọng tài có giá trị chung thẩm và không thể kháng cáo trƣớc bất kỳ cơ quan, tổ chức nào (trừ trƣờng hợp rất đặc biệt liên quan đến hủy phán quyết trọng tài). Ngay cả khi phán quyết trọng tài bị hủy thì không có cơ quan nào đƣơng nhiên có quyền xét xử lại vụ việc trừ khi có một thỏa thuận nào khác giữa các bên về việc lựa chọn cơ quan giải quyết tranh chấp.
Đặc điểm này giúp trọng tài có điều kiện thuận lợi trong việc giải quyết nhanh chóng, dứt điểm các tranh chấp thƣơng mại. Sự hỗ trợ của Tòa án đối với các hoạt động của trọng tài Pháp luật về trọng tài của các quốc gia nói chung, trong đó có Việt Nam nói riêng, đều quy định cơ chế hỗ trợ từ phía Tòa án đối với tổ chức và hoạt động của trọng tài. Đây chính là một khía cạnh của sự tƣơng tác giữa nhà nƣớc và trọng tài. Trọng tài, nhƣ đã nói ở trên, góp phần giúp Nhà nƣớc duy trì sự ổn định của xã hội, thì trong chiều ngƣợc lại, Nhà nƣớc mà cụ thể hơn là Tòa án, sẽ hỗ trợ để trọng tài có thể phát huy đƣợc tối đa khả năng của nó.
Thông qua trình tự công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài, Tòa án đảm bảo thực thi trên thực tế những quyết định của trọng tài khi một hoặc các bên đƣơng sự không tự nguyện thực hiện. Ngoài ra, Tòa án còn có thể hỗ trợ trọng tài ở các nội dung khác, nhƣ quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, kê biên tài sản, bảo toàn chứng cứ, cấm hoặc buộc đƣơng sự thực hiện một số hành vi nhất định. để tạo điều kiện cho trọng tài có thể thực hiện tốt đƣợc hoạt động của mình. Sự hình thành và phát triển của trọng tài Trong tƣơng quan lịch sử phát triển của loài ngƣời, tính cho tới thời điểm hiện tại, vẫn chƣa có tài liệu nào ghi nhận hoặc khẳng định đƣợc chính xác thời điểm xuất hiện biện pháp giải quyết tranh chấp bằng trọng tài, nhƣng qua các nghiên cứu và phân tích của các nhà khoa học, có thể khẳng định rằng đây chính là một trong những hình thức đầu tiên mà con ngƣời biết đến và sử dụng để giải quyết những mâu thuẫn nảy sinh trong đời sống xã hội Thậm chí đã có nhiều tài liệu còn “mạnh dạn” cho rằng trọng tài là tiền thân của phƣơng thức giải quyết tranh chấp bằng tòa án.
Quy định sơ khai nhất về trọng tài đƣợc ghi nhận trong một văn bản luật trong lĩnh vực mua bán hàng hóa của ngƣời La Mã, trong đó cho phép các thƣơng nhân đƣợc tự phân xử những mẫu thuẫn của mình mà không cần đến sự can thiệp của Nhà nƣớc. Về sau đó, ngƣời ta thấy trong các bản ghi chép của Luật La Mã còn cho phép mở rộng phạm vi của các tranh chấp, không chỉ trong biên giới lãnh thổ mà còn ở những nƣớc mà thƣơng nhân La Mã tới để trao đổi hàng hóa, có nghĩa là phạm vi tranh chấp đƣợc trải rộng trên hầu khắp Châu Âu, hay nói cách khác, phạm vi áp dụng của nó đã bao gồm cả yếu tố “quốc tế” nhƣ ngày nay vẫn thƣờng nhắc tới. Tiếp đó, trong hệ thống các luật của nƣớc Anh, văn bản pháp luật đầu tiên về trọng tài phải kể đến Luật Trọng tài 1697, nhƣng cũng cần nói thêm rằng, tại thời điểm luật này đƣợc thông qua thì trọng tài thƣơng mại đã trở thành một hình thức đƣợc áp dụng phổ biến vì phán quyết đầu tiên của trọng tài ở Anh đƣợc ghi nhận vào năm 1610. Tuy nhiên, các quy định sơ khai về trọng tài trong hệ thống Common Law vào thời điểm trƣớc năm 1697 luôn thể hiện hạn chế cơ bản là bất cứ bên nào tham gia tranh chấp cũng có thể khƣớc từ việc thực hiện phán quyết trọng tài nếu thấy phán quyết đó bất lợi cho mình.
Điều này làm cho phƣơng thức trọng tài đã không đạt đƣợc mục đích 12 z và hiệu quả nhƣ mong muốn của các bên. Song, đến khi Luật Trọng tài 1697 ra đời thì hạn chế này đã đƣợc khắc phục. Giai đoạn sau đó, trong Hiệp ƣớc Jay năm 1794, Anh và Mỹ đã thống nhất đƣa các vấn đề còn đang tranh chấp liên quan đến các khoản nợ và biên giới giữa hai bên ra giải quyết ở trọng tài.