Chương 1. Cơ sở lý luận thực hiện pháp luật về giải quyết tố cáo hành chính. Thực trạng thực hiện pháp luật về giải quyết tố cáo hành chính tại Ủy ban nhân dân thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc. Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về giải quyết tố cáo hành chính.
6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TỐ CÁO HÀNH CHÍNH 1. Khái niệm tố cáo và pháp luật về giải quyết tố cáo hành chính 1. Tố cáo và quyền tố cáo 1. Khái niệm tố cáo Tố cáo là một thuật ngữ được sử dụng trong đời sống xã hội, thể hiện sự quan tâm của con người trước hành vi, việc làm của người khác – đó là những hành vi, việc làm không phù hợp với đạo lý và vi phạm các quy định pháp luật, ảnh hưởng đến đạo đức, nhân phẩm và lợi ích của cá nhân, cơ quan, tập thể, tổ chức, đơn vị.
Theo từ điển tiếng Việt, “tố cáo” là nói cho cơ quan thẩm quyền biết một hành động, một việc làm phạm pháp nào đó, hay vạch trần hành động xấu xa nhằm lên án, ngăn chặn. Hay nói cách khác, “tố cáo” là vạch trần hành động xấu xa, phạm pháp hay tội ác trước cơ quan có thẩm quyền hoặc trước dư luận. Tố cáo là một khái niệm rộng, được xem xét trên nhiều phương diện, góc độ khác nhau, tùy thuộc vị trí, vai trò của tố cáo trong xã hội. Về phương diện khoa học pháp lý: Tố cáo là báo cho cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi trái pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân nào hây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức [21, tr.
Theo khoản 2 Điều 2 Luật Khiếu nại, Tố cáo năm 1998 và Điều 2 Luật tố cáo năm 2011 quy định: 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tố cáo là việc công dân theo thủ tục do Luật này quy định báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức. Các hành vi vi phạm bị tố cáo gồm: Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ; tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực. Một số công trình nghiên cứu cho rằng: Tố cáo là việc công dân phát hiện với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc làm trái pháp luật của các cơ quan nhà nước, tổ chức hoặc cá nhân đã gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho lợi ích của nhà nước, tập thể, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân [22, tr. Một số nhà nghiên cứu nêu khái niệm tố cáo trên phạm vi rộng hơn như: “Tố cáo là việc một người báo cho cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có thẩm quyền về một hành vi sai trái của một cá nhân hoặc một tổ chức nào đó để cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét, giải quyết” [19, tr.
Những quan niệm này phần nào chưa phù hợp với quy định của Hiến pháp 2013 về chủ thể, quyền tố cáo và phạm vi tố cáo. - Về phương diện xã hội: Tố cáo không chỉ được điều chỉnh bằng pháp luật mà tố cáo còn được điều chỉnh bằng các quy phạm xã hội khác như: tố cáo trong các tổ chức xã hội được điều chỉnh bằng các Điều lệ, quy chế của tổ chức xã hội đó hoặc các quy phạm xã hội khác. Có thể nói, trên phương diện xã hội, tố cáo hướng đến bất kỳ sự vi phạm xã hội nào. - Về phương diện tổ chức và quan hệ lao động: 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tổ chức Lao động Quốc tế (The International Labour organization) cho rằng: “Tố cáo” là việc người lao động hoặc người đã từng làm việc báo cáo về việc làm bất hợp pháp, trái quy tắc, nguy hiểm hoặc vô đạo đức của chủ sử dụng lao động.
Phòng Thương mại Quốc tế (The International Chamber of Commerce) cho rằng: “Tố cáo” là công cụ chủ yếu quản lý rủi ro nội bộ, là nguồn thông tin có giá trị từ lực lượng lao động của doanh nghiệp có thể sử dụng để phát hiện và ngăn chặn những hành vi phi pháp trong các doanh nghiệp Như vậy, tại các tổ chức lao động hoặc trong các quan hệ lao động, chỉ đề cập đến chủ thể tố cáo là thành viên tổ chức hoặc trong nội bộ tổ chức với người chủ sử dụng lao động. Hiện nay, trên thế giới chưa có khái niệm cụ thể về tố cáo, mà chỉ có quan niệm về tố cáo theo từng lĩnh vực, từng phạm vi cụ thể được điều chỉnh bởi các quan hệ trong nội bộ và không có quy định cụ thể đối với từng hành vi tố cáo. Như vậy, có thể định nghĩa khái niệm “tố cáo hành chính” hay còn gọi là tố cáo trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước như sau: “Tố cáo hành chính” là việc công dân báo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về hành vi trái pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức. Hành vi vi phạm pháp luật bị tố cáo bao gồm: Tố cáo hành vi vi phạm của cán bộ, công chức, viên chức khi thực hiện nhiệm vụ công vụ, là việc công dân báo cho cơ quan,tổ chức, cá nhân, tổ chức có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ.
Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực là việc công dân báo 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cho cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào đối với việc chấp hành các quy định pháp luật về quản lý nhà nước trong lĩnh vực đó. Khái niệm quyền tố cáo Quyền là những việc mà một người được làm mà không bị ai ngăn cản, hạn chế, bao gồm: Quyền đương nhiên (như quyền làm người, quyền được sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc) và quyền do luật pháp cho phép làm hoặc luật pháp không cấm làm. Quyền tố cáo là một trong những quyền cơ bản, tự nhiên của con người, của công dân trước những vấn đề bị vi phạm để tự bảo vệ mình. Nói cách khác, bản chất của quyền tố cáo là quyền tự vệ hợp pháp trước những hành vi vi phạm pháp luật để tự bảo vệ mình hoặc bảo vệ quyền và lợi ích của xã hội.
Đó là quyền hiến định, quyền phản hồi, quyền dân chủ, đó là quyền để bảo vệ quyền. Có thể nói, tố cáo là một hiện tượng khách quan trong đời sống xã hội. Ở nước ta coi tố cáo là quyền hiến định, quyền dân chủ, được thể hiện như một phương thức quyền để bảo vệ quyền và được ghi nhận trong Hiến pháp qua các thời kỳ. Hiến pháp 2013 quy định: “Mọi người có quyền khiếu nại, tố cáo với những cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân” [16, Điều 30].
Trên cơ sở đó, quyền tố cáo của công dân đã được cụ thể hóa trong nhiều văn bản pháp luật như: Luật Tố cáo, Bộ luật Tố tụng hình sự, Bộ luật Hình sự… Đây là cơ sở pháp lý cần thiết để công dân thực hiện tốt quyền làm chủ và giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước, góp phần làm trong sạch bộ máy nhà nước, qua đó phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. “Quyền tố cáo” là khả năng của công dân thực hiện các hành vi (thể 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hiện qua nhiều hình thức khác nhau) phát hiện và thông báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về mọi việc làm vi phạm pháp luật [17, tr. Quyền tố cáo phát sinh khi công dân biết hoặc phát hiện hành vi sai trái, vi phạm pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân và thông báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết. Người tố cáo thực hiện quyền tố cáo của mình chính là để phát hiện cho các cơ quan nhà nước có thẩm quyền về những hành vi trái pháp luật, thể hiện trách nhiệm của công dân vì lợi ích chung, lợi ích cộng đồng.
Thông qua tố cáo, công dân đã giúp cơ quan quản lý hành chính nhà nước phát hiện nhiều hành vi tiêu cực, tham nhũng, vi phạm pháp luật, thậm chí cả tội phạm, để có biện pháp xử lý kịp thời, nghiêm minh đối với những người vi phạm, bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và công dân. Luật Tố cáo quy định người tố cáo có quyền: Gửi đơn hoặc trực tiếp tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật, được giữ bí mật họ, tên, địa chỉ, bút tích và các thông tin cá nhân khác của mình; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền thông báo về việc thụ lý giải quyết tố cáo, tố cáo tiếp khi có căn cứ cho rằng việc giải quyết tố cáo của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền không đúng pháp luật hoặc quá thời hạn quy định mà tố cáo không được giải quyết, yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền bảo vệ khi bị đe dọa, trả thù, trù dập, được khen thưởng theo quy định của pháp luật. Bên cạnh những quyền trên, người tố cáo có các nghĩa vụ: Nêu rõ họ, tên, địa chỉ của mình; trình bày trung thực về nội dung tố cáo, cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung tố cáo mà mình có được, chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung tố cáo của mình, bồi thường thiệt hại do hành vi cố ý tố cáo sai sự thật của mình gây ra (Điều 9 Luật Tố cáo 2011). 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.