Chương I: Khái quát về giải quyết thừa kế tại Tòa án nhân dân Chương II: Thực trạng và kiến nghị 4 CHƢƠNG I: KHÁI QUÁT VỀ GIẢI QUYẾT THỪA KẾ TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN 1.1 KHÁI NIỆM THỪA KẾ VÀ GIẢI QUYẾT THỪA KẾ TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN 1.1 Khái niệm thừa kế và đặc điểm của thừa kế 1.1 Khái niệm chung về thừa kế Thừa kế tồn tại và phát triển cùng với xã hội loài người, thừa kế được hiểu là việc chuyển dịch tài sản của người chết cho người còn sống theo truyền thống, phong tục tập quán của từng dân tộc. Thừa kế theo pháp luật là thừa kế theo hàng thừa kế, điều kiện và trình tự thừa kế do pháp luật quy định. Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong những trường hợp sau đây: Không có di chúc (nghĩa là người có tài sản không định đoạt bằng việc lập di chúc; di chúc không hợp pháp; những người thừa kế theo di chúc đều chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc hoặc cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế. Thừa kế theo di chúc là thừa kế theo quy định và trình tự trong nội dung di chúc và không trái với các quy định pháp luật.
Người hưởng tài sản có nghĩa vụ duy trì, phát triển giá trị vật chất, giá trị tinh thần và truyền thống, tập quán mà thế hệ trước để lại. Trong xã hội có giai cấp, quan hệ thừa kế là đối tượng điều chỉnh của pháp luật, Nhà nước điều chỉnh quan hệ thừa kế nhằm đạt được những mục đích nhất định. Quan hệ thừa kế tồn tại song song với quan hệ sở hữu và phát triển cùng với sự phát triển của xã hội loài người. Mặt khác, quan hệ sở hữu là quan hệ giữa người với người về việc chiếm hữu của cải vật chất trong xã hội, trong quá trình sản xuất, lưu thông phân phối của cải vật chất.
Sự chiếm hữu vật chất này thể hiện giữa người này với người khác, giữa tập đoàn người này với tập đoàn người khác, đó là tiền đề để làm xuất hiện quan hệ thừa kế. Sở hữu cũng là một yếu tố khách quan xuất hiện ngay từ khi có xã hội loài người và cùng với thừa kế, chúng phát triển cùng với xã hội loài người. Theo nghĩa hẹp, quyền thừa kế là quyền của cá nhân để lại tài sản của mình sau khi chết cho người khác. Theo nghĩa rộng, quyền thừa kế là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh việc dịch chuyển tài sản của người chết cho những người khác theo ý chí của người đó khi còn sống hoặc theo một trình tự nhất định.
Mặt khác, các quy phạm 5 pháp luật ghi nhận và quy định trình tự thực hiện và bảo vệ các quyền của người có tài sản, quyền của người thừa kế và các chủ thể khác trong quan hệ thừa kế. [1] Thừa kế với tư cách là một quan hệ pháp luật dân sự trong đó các chủ thể có những quyền và nghĩa vụ nhất định. Trong quan hệ này, người có tài sản, trước khi chết có quyền định đoạt tài sản của mình cho người khác. Những người có quyền nhận di sản họ có thể nhận hoặc không nhận di sản (trừ trường hợp pháp luật có quy định khác).
Đối tượng của thừa kế là tài sản, quyền tài sản thuộc quyền của người chết để lại (trong một số trường hợp người để lại tài sản có thể chỉ để lại hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản). Tuy nhiên, một số quyền tài sản gắn liền với nhân thân người đã chết không thể chuyển cho những người thừa kế (tiền cấp dưỡng, tiền lương hưu…) vì pháp luật quy định chỉ có người đó mới có quyền được hưởng.2 Đặc điểm của thừa kế Thứ nhất, pháp luật về thừa kế ra đời rất sớm. Từ thời La Mã cổ đại đã có pháp luật về thừa kế. Ở Việt Nam pháp luật về thừa kế có thể đã tồn tại ở thời vua Hùng và đa số các sử gia và các nhà luật học đều nhất trí rằng: “Pháp luật nước ta đã có từ trước thời Lê và đã được điển chế đến thời Lý, Trần”.
Như vậy, pháp luật về thừa kế Việt Nam đã xuất hiện từ lâu, nó trở thành một chế định quan trọng của pháp luật thời bấy giờ. Tuy nhiên, pháp luật về thừa kế thời kỳ này chỉ bảo vệ giai cấp thống trị, củng cố, duy trì quyền sở hữu của những người có của. Thứ hai, pháp luật về thừa kế có mối quan hệ chặt chẽ với pháp luật về quyền sở hữu, Nếu sở hữu là yếu tố đầu tiên để từ đó làm xuất hiện thừa kế thì đến lượt mình thừa kế lại là phương tiện để duy trì, củng cố và xác định quan hệ sở hữu. Nếu sở hữu và thừa kế là hai vấn đề liên quan mật thiết với nhau song song tồn tại bên nhau thì pháp luật về thừa kế với pháp luật về quyền sở hữu cũng có mối quan hệ hết sức mật thiết với nhau.
Thông qua việc quy định hình thức sở hữu về tài sản của cá nhân và theo đó pháp luật quy định cho họ các quyền năng trong lĩnh vực thừa kế. Hay nói cách khác, pháp luật về sở hữu là cơ sở cho việc ban hành các văn bản pháp luật về thừa kế. Vì vậy, pháp luật về thừa kế luôn mang một bản chất giai cấp sâu sắc, nó luôn là phương tiện để duy trì, củng cố quyền sở hữu ở trong xã hội. 6 Thứ ba, pháp luật về thừa kế tập trung chủ yếu trong BLDS, ngoài ra còn được quy định ở một số văn bản liên quan.
Đa số các quy phạm pháp luật về thừa kế được quy định chủ yếu trong Bộ luật Dân sự. Tuy nhiên, do quan hệ thừa kế cũng có mối quan hệ chặt chẽ với quan hệ về sở hữu, quan hệ hôn nhân huyết thống và quan hệ nuôi dưỡng, quan hệ đất đai… cho nên các quy định pháp luật về thừa kế còn được quy định rải rác trong một số văn bản liên quan như Luật Đất đai, Luật đầu tư, Luật doanh nghiệp, Luật hôn nhân gia đình… Thứ tƣ, pháp luật về thừa kế được quy định tương đối toàn diện và có kết cấu chặt chẽ. Pháp luật về thừa kế ở Việt Nam tương đối toàn diện có cấu trúc chặt chẽ. Pháp luật về thừa kế được chia thành năm nhóm.
Ngoài nhóm một quy định vấn đề chung về thừa kế, làm cơ sở để dẫn chiếu các nhóm quy định cụ thể. Trong mỗi nhóm cụ thể đều có các quy định chung quy định các vấn đề cơ bản có tính nguyên tắc của phần đó, sau đó mới quy định các vấn đề chi tiết, các cấu trúc này thuận tiện cho việc tra cứu và áp dụng pháp luật về thừa kế. [2] Thời hạn, thời hiệu khởi kiện về thừa kế theo quy định pháp luật Thứ nhất, thời hiệu khởi kiện về thừa kế được quy định trong luật dân sự Một là, thời hiệu khởi kiện về thừa kế theo BLDS 2005 Điều 645 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: “Thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế. Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là ba năm, kể từ thời điểm mở thừa kế”.
Hai là, thời hiệu khởi kiện về thừa kế theo BLDS 2015 Tại khoản 1 Điều 623 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó. Ba là, điểm tiến bộ hơn so với luật Dân sự 2005 Đây là một quy định rất mới, trên thực tế có rất nhiều trường hợp, theo quy định của Bộ Luật Dân sự năm 2005 đã hết thời hiệu khởi kiện về thừa kế, nhưng nếu áp dụng Điều 623 của Bộ luật Dân sự 2015 thì khởi kiện lại, yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết chia theo quy định Bộ luật Dân sự về di sản thừa kế. [3] 7 Thứ hai, việc giải quyết di sản khi hết thời hiệu được quy định trong BLDS 2015 Theo Điều 612 Bộ luật Dân sự 2015, di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác.
Bộ luật Dân sự năm 2015 đã quy định giải quyết đối với những di sản thừa kế đã hết thời hiệu khởi kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 623 Bộ luật Dân sự 2015. Đó là: “Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó”. Trường hợp không có người thừa kế đang quản lý di sản thì di sản được giải quyết như sau: Nếu người đang quản lý di sản là người thừa kế thì di sản thuộc quyền sở hữu của họ; Nếu người đang quản lý di sản không phải là người thừa kế thì phân thành 2 trường hợp: Nếu người đang quản lý di sản là người đang chiếm hữu, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, liên tục, công khai và phù hợp pháp luật thì di sản thuộc quyền sở hữu của người người này; Trong trường hợp không có người chiếm hữu, người được lợi về tài sản thì di sản thuộc về Nhà nước. Quy định trên là cơ sở pháp lý cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong giải quyết các tranh chấp về di sản thừa kế.2 Khái quát về giải quyết thừa kế tại Tòa án nhân dân 1.1 Giải quyết tranh chấp thừa kế Giải quyết tranh chấp về thừa kế là việc cơ quan có thẩm quyền tiến hành các hoạt động tố tụng theo quy định Pháp luật để giải quyết các tranh chấp liên quan đến thừa kế.2 Đặc điểm giải quyết tranh chấp thừa kế Nếu người chết có để lại di chúc hợp pháp đối với khối tài sản mà mình để lại, thì khối tài sản này được chia theo nội dung di chúc.
Trường hợp không tự thỏa thuận chia được mà nhờ đến Tòa án thì Tòa án cũng sẽ giải quyết theo nội dung di chúc. Khi người chết để lại tài sản mà không có kèm theo di chúc thì việc chia tài sản này được chia theo pháp luật.