BÀI GIẢNG LÝ THUYẾT GIẢI PHẪU BỆNH (ĐỐI TƯỢNG BÁC SỸ Y HỌC CỔ TRUYỀN ) HÀ NỘI 1 PHẦN I. 3 GIẢI PHẪU BỆNH ĐẠI CƯƠNG. 3 NHỮNG TỔN THƯƠNG CƠ BẢN CỦA MÔ. 12 TỔN THƯƠNG CƠ BẢN CỦA TẾ BÀO.
15 RỐI LOẠN TUẦN HOÀN. 57 BỆNH HỌC UNG THƯ. 72 GIẢI PHẪU BỆNH CƠ QUAN. 72 THẤP TIM VIÊM NỘI TÂM MẠC NHIỄM KHUẨN.
72 PHẾ QUẢN PHẾ VIÊM. VIÊM PHẾ QUẢN PHỔI. UNG THƯ PHỔI. 87 VIÊM LOÉT DẠ DÀY.
91 UNG THƯ DẠ DÀY. 96 VIÊM CẦU THẬN CẤP. 102 VIÊM CẦU THẬN MẠN. 115 UNG THƯ GAN NGUYÊN PHÁT.
122 UNG THƯ CỔ. 136 BỆNH NGUYÊN BÀO NUÔI. 147 BỆNH CỦA TUYẾN GIÁP. 155 2 PHẦN I GIẢI PHẪU BỆNH ĐẠI CƯƠNG GIỚI THIỆU GIẢI PHẪU BỆNH MỤC TIÊU 1.
Nêu rõ các giai đoạn phát triển của giải phẫu bệnh học. Trình bày được nội dung và phương pháp của giải phẫu bệnh học. Trình bày được những luận cứ khoa học có tính thuyết phục và ý nghĩa vai trò của giải phẫu bệnh học. Định nghĩa Giải phẫu bệnh học là khoa học các tổn thương, hay nói một cách cụ thể hơn, mổ xẻ phân tích các bệnh tật về các mặt nghĩa đen và nghĩa bóng, nghĩa là về mặt hình thái cũng như cơ chế.
Do đó, ở nhiều nước, người ta không gọi là giải phẫu bệnh học mà gọi ngắn gọn là bệnh học gồm cả mô bệnh lẫn tế bào bệnh. Tổn thương là những biến đổi gây nên do bệnh tật, biến đổi không chỉ về hình thái mô tả được qua các giác quan mà cả về hóa học, men học, miễn dịch học, hiển vi điện tử học, v. biểu hiện bằng rối loạn chức năng. Hình thái là những đặc điểm phát hiện và mô tả được qua sự quan sát của các giác quan căn bản là con mắt nhưng cũng có thể là các giác quan khác.
Khi nhìn bằng mắt thường thì gọi là đại thể. Nhìn với kính hiển vi thì gọi là vi thể. Với kính hiển vi điện tử thì gọi là siêu vi thể và có thể đến mức độ phân tử: đó là bệnh học phân tử. Quá trình phát triển của môn học Giải phẫu bệnh 3 Giải phẫu bệnh học, như mọi chuyên khoa, không thể tách rời khởi y học nước nhà cũng như y học thế giới và đã qua nhiều giai đoạn trước và tiến triển không ngừng.
Chúng ta làm tròn những con số để tính các giai đoạn một cách tương đối. Trước năm 1850 là giai đoạn y học kinh nghiệm. Khoảng những năm 50 của thế kỷ XIX. Pasteur và các bác học đương thời đã phát hiện ra tụ cầu khuẩn và nhiều vi khuẩn gây bệnh, chấm dứt một giai đoạn mò mẫm và nêu lên những nguyên nhân cụ thể gây bệnh mà người ta cần điều trị để tiêu diệt: đó là y học và điều trị học bệnh căn mà cho đến ngày nay vẫn giữ một giá trị gần tuyệt đối.
Đó là kiểu đánh giặc biết quân thù. Từ 1850 đến 1900 là y học bệnh căn, đã đem lại nhiều kết quả tốt hơn không những trong điều trị mà còn trong phòng bệnh. Tuy Jenner đã có sáng kiến đầu tiên chủng đậu cho người vào thế kỷ XVIII nhưng ý thức và biện pháp rộng rãi khoa học bắt đầu vào thời kỳ này (1850-1900) vớivaccin phòng dại của Pasteur, không chỉ để phòng các bệnh nhiễm khuẩn đặc hiệu mà còn đề phòng nhiễm khuẩn trong phẫu thuật bằng phương pháp diệt khuẩn và vô khuẩn nên đã cho phép ngành phẫu thuật phát triển một cách an toàn. Đó cũng là những thành công của các nhà vi sinh học thời này.
Từ 1900 đến 1950: bệnh căn không phải bao giờ cũng tìm thấy và dù có tìm thấy, người ta có hướng chỉ nghĩ đến nguyên nhân gây bệnh mà quên người bệnh, "chỉ có bệnh, không có bệnh nhân". Đó mới chỉ là một mặt của bệnh học. Nguyên nhân tìm thấy ở môi trường. Cần phải thăm dò nội tại người bệnh.
Người ta dùng một khăn vải để nghe tim nghe phổi, Laennec đã sáng chế ra ống nghe. Cái búa tìm phản xạ cũng được phát minh. Một số phản ứng sinh học đã cho phép hiểu biết hơn về con người bệnh lẫn con người khỏe mạnh. Đó là giai đoạn y học kinh điển, y học nghệ thuật.
Từ 1950 đến 1975 : yêu cầu phải sâu hơn nữa về con người. Năm 1950 đánh dấu một bước nhảy vọt của khoa học, coi như bắt đầu một giai đoạn cách mạng khoa học kỹ thuật thứ hai, tiếp theo cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật thứ nhất của thế kỷ XIX, phát minh ra cấu trúc DNA, siêu ly tâm, tự chụp phóng xạ, hiển vi điện tử, chụp nhấp nháy, chụp siêu âm, chụp nhiệt, chụp cắt lớp, chụp cộng hưởng từ hạt nhân, miễn dịch, thụ tinh trong ống nghiệm, lai tế bào, ghép tách gen, điều khiển vi khuẩn điều khiển thuốc, mang tới tận tế bào, phân tử thuốc mới, vaccin mới, phương pháp đo lường mới, đến tận nanogam, 4 nanomet, v. cho phép thăm dò và "mổ xẻ' cho người ngay khi còn sống. Người ta đã gần như cướp cả quyền tạo hóa khi điều khiển chất DNA chế ra những sinh vật mới.
Đó là y học khoa học. Từ 1975 đến nay, nền y học khoa học hóa cao độ trong hơn một phần tư thế kỷ tuy không phải là vạn năng song đôi khi trở thành máy móc, theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Vì quá tin tưởng vào máy móc, nhiều khi người ta làm cho người bệnh phụ thuộc quá nhiều vào thăm dò, tốn kém nhiều nhưng kết quả không phải bao giờ cũng như ý muốn. Còn có những nhóm bệnh mà người ta chưa hiểu rõ căn nguyên cũng như chưa thể điều trị một cách triệt để như bệnh ung thư, bệnh xơ vữa động mạch nhưng cũng đã có những tiến bộ lớn trong phát hiện, chẩn đoán sớm và điều trị có hiệu quả tích cực trong khá nhiều trường hợp.
Nhưng y học vẫn tiếp theo hai con đường: Theo hướng y học phân tử, tìm hiểu, phân tích bệnh tật tới mức phân tử. - Theo hướng bệnh học môi trường và dịch tễ học, tìm hiểu bệnh sử tự nhiên của bệnh tật để tìm cách bảo vệ và phòng ngừa hơn điều trị. - Theo hướng phát triển như của y học nói chung, giải phẫu bệnh học cũng có những giai đoạn tương tự: a) Giải phẫu bệnh học kinh nghiệm (trước năm 1850) chỉ mô tả mà không hiểu ý nghĩa của các tổn thương. b) Giải phẫu bệnh học căn bản, bắt đầu tìm hiểu nguyên nhân và cơ chế của các tổn thương (1850 - 1900).
c) Giải phẫu bệnh học kinh điển, thăm dò thô sơ (1900 - 1950) bằng những phương tiện kinh điển (cắt nhuộm thông thường, hiển vi quang học) d) Giải phẫu bệnh hiện tại, ngoài việc kế thừa những kiến thức của giai đoạn trước, cũng phải tìm hiểu cơ chế của các hình ảnh bệnh lý, qua các cấu trúc phân tử và trong hoàn cảnh tác động của môi trượng xung quanh. Ví dụ: chương trình chết tế bào (Apoptosis), nhân bản vô tính, tế bào gốc trong bệnh học và chữa bệnh. Nội dung của giải phẫu bệnh học Kinh điển người ta chia giải phẫu bệnh học làm hai phần: 5 Giải phẫu bệnh học chung hay đại cương, học những tổn thương chung cho mọi bệnh tật mọi cơ quan và bao gồm những tương ứng với nhóm bệnh căn: - Viêm - U hay bướu - Chuyển hóa, dinh dưỡng, nội tiết, miễn dịch. - Bệnh di truyền, bẩm sinh.
Giải phẫu bệnh học bộ phận hay cơ quan, hoặc những tổn thương riêng của từng cơ quan hay bộ máy, như bộ máy hô hấp, bộ máy thần kinh.mà những bệnh cũng chỉ nằm trong bốn nhóm bệnh căn bản của giải phẫu bệnh đại cương. Ngày nay người ta vẫn phân chia một cách khái quát giải phẫu bệnh học đại cương và bộ phận nhưng được nêu cụ thề hơn thành bốn chuyên ngành sâu. Giải phẫu bệnh học giải phẫu ( Anatomical Pathology) Thực hiện qua khám nghiệm tử thi thông lệ kết hợp với kỹ thuật vi thể tinh xảo hơn. Giải phẫu bệnh học ngoại khoa ( Surgical Pathology) Bệnh phẩm xét nghiệm mô bệnh học được lấy qua can thiệp phẫu thuật (trong và sau phẫu thuật).
Bệnh phẩm lấy ngay khi phẫu thuật được cắt lạnh qua máy cắt lạnh (Cryostat), nhuộm nhanh, chẩn đoán tức thì (mọi công đoạn trong vòng 30 phút) thường để xác chẩn hay loại trừ tổn thương ung thư giúp phẫu thuật viên lựa chọn các h điều trị thích hợp (cắt bỏ hạn chế, bảo tồn hay triệt để, kể cả nạo vét hạch. Bệnh phẩm xét nghiệm mô bệnh sau phẫu thuật vừa để xác chẩn lẫn định tip sâu, chính xác hơn, phát hiện di căn (trong ung thư) nhằm bổ khuyết phác đồ điều trị. Giải phẫu bệnh học lâm sàng (Clinical Pathology) Thường làm tại bệnh viện nhưng cũng có thể làm tại cộng đồng qua test sàng lọc. Nó bao gồm: a/ Xét nghiệm mô bệnh các tổn thương trong cơ thể qua sinh thiết kim to các loại, đôi khi phải làm sinh thiết mở (phẫu thuật hẹp).
Đây là loại hình chẩn đoán mô bệnh học trước phẫu thuật nói riêng và trước điều trị nói chung (vì nhiều bệnh không cần điều trị phẫu 6 thuật). Kỹ thuật ở đây được áp dụng với những dụng cụ sinh thiết chuyên biệt và thường được kết hợp với nội soi hoặc sự dẫn đường của chẩn đoán hình ảnh. b/ Xét nghiệm tế bào học qua chọc hút tổn thương bằng kim nhỏ (còn gọi là sinh thiết hút kim nhỏ), ngoài các mô mềm, nông còn cho phép " với tới" hầu hết tổn thương mô đặc, kể cả ở sâu như tạng, xương. Kỹ thuật này đã được thử nghiệm lần đầu tiên ở Bệnh viện Bạch Mai từ đầu thập niên 1970 (bắt đầu trên khám nghiệm tử thi rồi mới chuyển sang bệnh nhân sống) do Bác sĩ Nguyễn Vượng tiến hành và ngày nay đã được áp dụng ở trên 100 cơ sở Giải phẫu bệnh trong cả nước.
c/ Xét nghiệm tế bào học bong: tế bào được lấy từ các dịch tự nhiên (máu, nước tiểu, nước não tủy…), từ các tràn dịch (màng bụng, màng tim , màng phổi, màng khớp…) hoặc từ các hốc tự nhiên ( miệng, cổ tử cung, âm đạo …). Ngày nay, xét nghiệm chọc hút kim nhỏ ở vú, tuyến giáp …,xét nghiệm tế bào học bong ở cổ tử cung - âm đạo được coi là những test sàng lọc có hiệu quả nhất tại cộng đồng trong phát hiện sớm ung thư để có thể chữa khởi hoàn toàn. Giải phẫu bệnh học thực nghiệm (Experimental Pathology) Là một loại hình nghiên cứu đặc thù, chủ yếu thực hiện trên súc vật.