Chương I: Tổng quan nghiên cứu giải pháp thúc đẩy xuất khẩu mặt hàng đường mía sang Malaysia. Chương II: Cơ sở lý luận chung về xuất khẩu và giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa. Chương III: Thực trạng áp dụng các biện pháp thúc đẩy xuất khẩu mặt hàng đường mía sang Malaysia của công ty TNHH Thương mại & XNK Lam Sơn. Chương IV: Định hướng phát triển và đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện các giải pháp thúc đẩy xuất khẩu mặt hàng đường mía sang Malaysia của công ty TNHH Thương mại & XNK Lam Sơn.
5 CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ XUẤT KHẨU VÀ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU HÀNG HÓA 2. Cơ sở lý luận về xuất khẩu 2. Khái niệm và vai trò xuất khẩu 2. Khái niệm xuất khẩu Đã có nhiều quan điểm, khái niệm về hoạt động xuất khẩu được đưa ra.
Theo Luật thương mại số 36/2005/QH11 ngày 14 tháng 06 năm 2005 của Quốc hội nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì xuất khẩu được định nghĩa như sau: “Xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hoá được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật”. Một định nghĩa khác về xuất khẩu được đưa ra trong giáo trình Thương mại quốc tế của Feenstra and Taylor (2010) đó là “Các quốc gia mua và bán hàng hóa, dịch vụ từ nhau. Xuất khẩu là sản phẩm được bán từ nước này sang nước khác”. Vai trò của xuất khẩu Xuất khẩu là một hoạt động kinh tế đối ngoại cơ bản, có vai trò cực kỳ quan trọng trong sự tăng trưởng và phát triển nền kinh tế.
Thứ nhất, xuất khẩu đóng góp vào tăng trưởng kinh tế bởi đây là hoạt động mang ngoại tệ lớn nhất về cho đất nước. Xuất khẩu giúp các doanh nghiệp tăng khả cung cấp đầu vào cho sản xuất, nâng cao năng lực và quy mô sản xuất trong nước, mở rộng thị tường tiêu thụ, từ đó giúp nền kinh tế tăng trưởng. Thứ hai, xuất khẩu góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển, nâng cao chất lượng sản phẩm. Để tồn tại và phát triển được trên thị trường quốc tế thì doanh nghiệp phải không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành, tìm ra những cách thức kinh doanh sao cho có hiệu quả, giảm chi phí và tăng năng suất… để tạo sức cạnh tranh mạnh mẽ cho hàng hoá.
Thứ ba, xuất khẩu giúp chuyển dịch cơ cấu kinh tế sang nền kinh tế hướng ngoại. Bởi xuất khẩu tạo điều kiện cho các ngành khác phát triển, nâng cao khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ, giúp cho sản xuất ổn định và kinh tế phát triển vì có nhiều thị trường, phân tán rủi ro do cạnh tranh. 6 Thứ tư, xuất khẩu giúp giải quyết công ăn việc làm và cải thiện đời sống người dân. Xuất khẩu gia tăng sẽ tạo thêm công ăn việc làm trong nền kinh tế, nhất là trong ngành sản xuất hàng hoá xuất khẩu.
Xuất khẩu làm tăng GDP, làm gia tăng nguồn thu nhập quốc dân, từ đó có tác động làm tăng tiêu dùng nội địa. Thứ năm, xuất khẩu là cơ sở mở rộng và thúc đẩy các quan hệ đối ngoại của đất nước. Xuất khẩu và các quan hệ kinh tế đối ngoại đã làm cho nền kinh tế nước ta gắn chặt với phân công lao động quốc tế, thúc đẩy quan hệ ngoại giao với nhiều quốc gia, tham gia vào nhiều tổ chức và hiệp định thương mại quốc tế. Phân loại xuất khẩu Theo giáo trình Kinh doanh quốc tế đồng chủ biên PGS.TS Doãn Kế Bôn - TS.
Lê Thị Việt Nga (2021), Trường Đại học Thương mại có thể chia hoạt động xuất khẩu thành hai dạng cơ bản gồm: a) Xuất khẩu trực tiếp (Direct export) “Xuất khẩu trực tiếp là hoạt động theo đó doanh nghiệp sản xuất hoặc thu mua hàng hóa ở thị trường trong nước rồi trực tiếp bán cho người mua ở thị trường nước ngoài mà không sử dụng các trung gian thương mại”. Với hình thức kinh doanh này, doanh nghiệp sẽ tự mình thực hiện tất cả các phần công việc liên quan đến xuất khẩu. Vì thế, doanh nghiệp có thể trực tiếp kiểm soát hoạt động phân phối, xây dựng nhãn hiệu, cũng như định giá các sản phẩm do mình cung cấp. Bên cạnh đó, việc xuất khẩu trực tiếp giúp doanh nghiệp tham gia vào các khâu trong hoạt động xuất khẩu sản phẩm của mình sang thị trường nước ngoài, bởi vậy doanh nghiệp có điều kiện tiếp xúc trực tiếp với thị trường và khách hàng để hiểu được rõ nhu cầu và thị hiếu tiêu dùng của họ cũng như nhanh chóng nắm bắt được những cơ hội mới.
Tuy nhiên, xuất khẩu trực tiếp cũng có những hạn chế nhất định mà doanh nghiệp cần lưu ý chẳng hạn như cần chi phí thực hiện cao hơn, đòi hỏi phải có kiến thức nhất định về thị trường nước ngoài. b) Xuất khẩu gián tiếp (Indirect export) “Xuất khẩu gián tiếp là hình thức xuất khẩu hàng hóa khi nhà xuất khẩu không làm việc trực tiếp với người nhập khẩu ở nước ngoài mà sẽ thông qua một bên thứ ba thường được gọi là trung gian thương mại để thực hiện các phần công việc liên quan”. Để bán và phân phối các sản phẩm của mình ở thị trường nước 7 ngoài, người sản xuất sử dụng các bên trung gian thương mại là những người có chức năng xuất khẩu thực hiện cho mình. Điều này đồng nghĩa với việc doanh nghiệp sản xuất hay nhà xuất khẩu trong nước sẽ không thực sự tham gia vào hoạt động tiếp thị và bán hàng ở thị trường nước ngoài.
Trong thực tế, phương thức xuất khẩu gián tiếp thường được lựa chọn bởi các doanh nghiệp có quy mô nhỏ, chưa đủ điều kiện để trực tiếp thực hiện hoạt động xuất khẩu, hoặc coi phần lợi nhuận đem lại từ hoạt động xuất khẩu chỉ là phần phụ trong tổng toàn bộ lợi nhuận từ các hoạt động kinh doanh chung của doanh nghiệp. Ngoài ra, đây cũng là phương thức được một số doanh nghiệp lựa chọn khi muốn từng bước xâm nhập thị trưởng quốc tế hoặc thử nghiệm thị trường mới trước khi chuyển sang các dụng thức khác đòi hỏi mức độ đầu tư nguồn lực và mức độ gắn kết với thị trường cao hơn. Các yếu tố tác động tới xuất khẩu mặt hàng đường mía ra nước ngoài 2. Môi trường kinh doanh Các yếu tố của môi trường kinh doanh ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động xuất khẩu đường mía, có thể kể đến như: - Thị trường: Kể từ đầu năm 2022 tới nay, giá mía đường tăng hơn 9%, lên 19,44 USD/pound; mức tăng là gần 44% so với đầu năm 2021.
Chốt phiên giao dịch ngày 20/6/2022, giá đường trắng giao tháng 8/2022 trên Sàn giao dịch hàng hoá ICE (Hoa Kỳ) tăng 0,7% lên 565,40 USD/tấn. Giá đường đang ở vùng đỉnh kể từ năm 2018 và được dự báo sẽ tiếp tục tăng khi Ấn Độ, quốc gia xuất khẩu đường lớn thứ hai thế giới đã lên kế hoạch tiếp tục áp đặt hạn ngạch xuất khẩu đường trong niên vụ 2022/2023 nhằm đảm bảo nguồn cung trên thị trường nội địa. Còn Brazil thì chuyển hướng sang sản xuất Ethanol để hưởng lợi từ giá năng lượng cao thay vì chỉ sản xuất đường như trước kia. Tại thị trường Việt Nam, trong tháng 2/2022, giá đường trắng phổ biến ở mức 17.000 đồng/kg; đường tinh luyện là 18.400 đồng/kg; đường vàng là 17.600 đồng/kg; trong khi đó đường nhập lậu chỉ ở mức 16.
Điều này dẫn đến đường nội địa khó tiêu thụ do chênh lệch giá. - Nhu cầu tiêu thụ: Reuters dẫn báo cáo của công ty phân tích thị trường CovrigAnalytics cho biết sản lượng đường thế giới sẽ vượt nhu cầu khoảng 0,9 triệu tấn trong mùa vụ mới, bắt đầu vào tháng 10/2022. Trước đó, trong niên vụ 2021 - 8 2022, ngành đường thế giới cũng thặng dư khoảng 0,6 triệu tấn. Thực tế, số liệu dư cung niên vụ 2021 - 2022 và dự kiến 2022 - 2023 khá nhỏ so với giai đoạn trước đó.
Nhu cầu tiêu thụ đường của thế giới có thể cao hơn nếu đại dịch COVID-19 không kéo dài trong hai năm gần đây. Dự kiến, tiêu thụ đường trong niên vụ 2022 - 2023 tăng 5,1 triệu tấn so với giai đoạn trước đại dịch 2018 - 2019. Tại Việt Nam, theo ước tính, mỗi năm nhu cầu nội địa của Việt Nam cần từ 2,1 - 2,3 triệu tấn đường. Hiệp hội Mía đường Việt Nam thông báo, lũy kế đến kết thúc vụ mía 2021/2022, toàn ngành đã sản xuất được 741.
Tức là sản lượng đường vụ này chỉ đáp ứng được 33% nhu cầu tiêu thụ. Trong khi đó những năm trước với sản lượng sản xuất khoảng 0,9 - 1,1 triệu tấn/năm, đường nội địa có thể đáp ứng 70 - 80% nhu cầu tiêu thụ. - Sức ép cạnh tranh: Áp lực lớn nhất với ngành mía đường Việt Nam hiện nay là năng lực cạnh tranh yếu. Xét về trình độ công nghệ, chất lượng sản phẩm, năng suất, chất lượng đường, mía…, thì một số nhà máy và doanh nghiệp đường Việt Nam không thua kém, nhưng nhìn tổng thể toàn ngành thì trình độ phát triển, năng lực cạnh tranh còn thấp khá xa so với thế giới.
Đánh giá về trình độ phát triển ngành mía đường Việt Nam, ông Ngô Quang Tú - Trưởng phòng Chế biến và bảo quản nông sản (Cục Chế biến và phát triển thị trường nông sản - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) cho biết: Nếu so sánh với các nước có ngành mía đường phát triển như Thái Lan, Brazil… thì trình độ của Việt Nam chỉ ở mức trung bình thấp. Cụ thể, chất lượng mía Việt Nam mới đạt trên dưới 10 chữ đường (CCS), trong khi trung bình thế giới là 12 - 14 CCS, thậm chí cao hơn ở Brazil hay Ấn Độ. Theo các chuyên gia, công suất giúp các nhà máy đường phát huy hiệu quả kinh tế thông thường là 6.000 tấn mía/ngày trở lên, thì tại Việt Nam, trong 41 nhà máy đường, chưa đến 10 nhà máy có công suất từ 6.000 tấn mía/ngày, 17 nhà máy có công suất từ 2. Chất lượng đường còn thấp nhưng giá thành sản xuất mía Việt Nam lại rất cao, khoảng 900.000 đồng/tấn, nhưng của Thái Lan chỉ 600.
Điều này khiến đường Việt khó có thể cạnh tranh về giá cả trên thị trường quốc tế. Quản lý Nhà nước 9 Trong những năm gần đây, Chính phủ, các bộ, ngành trung ương và địa phương luôn quan tâm, chỉ đạo, tạo điều kiện thuận lợi theo quy định pháp luật và phù hợp với thông lệ quốc tế để ngành mía đường phát triển.