CHƯƠNG 1 TỎNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VÁN ĐÈ LÝ LUẬN VA THỰC TIEN VE GIẢI PHÁP XÓA DOI GIẢM NGHÈO 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước Giảm đói nghéo là một trong 8 MDG (Millennium Development Goal — Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ) được 189 quốc gia thành viên Liên Hợp Quốc nhất trí phan dau đạt được vào năm 2015 và được ghi trong bản Tuyên ngôn Thiên niên kỷ của Liên Hợp Quốc tại Hội nghị thượng đỉnh Thiên niên kỷ diễn ra từ ngày 06 đến ngày 08 tháng 9 năm 2000 tại trụ sở Đại hội đồng Liên Hợp Quốc ở New York, Mỹ. Chính vì vậy mà ở ngoài nước đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về giảm đói nghèo nói chung và xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam nói riêng, điển hình là một số công trình sau: - Michael P.
Torado (1998), Economics for a Third World (Kinh té hoc cho thé giới thứ ba) - Giới thiệu những nguyên tắc, van dé và chính sách về phát triển, đã giới thiệu kết quả nghiên cứu về những nguyên tắc, vấn đề và chính sách phát triển. Cuốn sách đã tập trung vào các van đề như nông nghiệp, nông thôn, về lao động và ảnh hưởng của nó đến phát triển kinh tế - xã hội, những van dé về dân số, nghèo đói và tan công vào nghèo đói và bất công; di cư từ nông thôn ra thành thị; nông nghiệp trì trệ và các cơ cầu ruộng đất; nông nghiệp tự cung tự cấp và sự phát triển nông thôn. Những vấn đề trên có thể tạo lập những cơ sở lý thuyết cơ bản cho công tác xóa đói giảm nghèo của nhiều nước trong đó có Việt Nam. - Shanks, Edwin, va Carrie Turk (2002), Policy Recommendations from the Poor, Vietnam Development Information Center, tổng hợp các kết qua điều tra, báo cáo khoa học chuẩn bị cho Nhóm hành động chống nghèo đói (PTE), diễn đàn của các tô chức chính phủ, các nhà tài trợ và các tô chức phi chính phủ đưa ra các khuyến nghị chính sách ban đầu cho việc xây dựng Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo (CPRGS) của Việt Nam.
Pernia, and Gemma Esther B. Estrada (2003), Economic Growth and Poverty Reduction in Vietnam, ERD Working Paper No. 42, ADB: Nghiên cứu cho thấy theo tiêu chuan quốc tế, Việt Nam đã đạt được những thành tựu nôi bật trong công tác xóa đói giảm nghèo nhờ có nhân tố chính là tăng trưởng kinh tế theo chiều rộng. Điều đó chứng tỏ đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước Việt Nam vào năm 1986 đã góp phần giúp người nghèo vượt nghèo vươn lên có thu nhập ổn định mà chưa có nước đang phát triển ở châu Á nào có thê làm được trong những thập kỷ gần đây.
Nghiên cứu còn cho thấy rằng tốc độ tăng trưởng càng cao bao nhiêu thì vai trò của các nhân tố phân phối là trực tiếp ảnh hưởng đến an sinh của người nghèo càng trở nên ít hơn. Tuy nhiên, các nhân tô phân phối lại này vẫn có thé góp phần day mạnh ca tăng trưởng và giảm đói nghèo trong dài hạn. Mmai, Raghav Gaiha, Ganesh Thapa (2012), Microfinance and Poverty, cho rang một quốc gia với số lượng tô chức tai chính vi mô nhiều hơn, tông danh mục cho vay bình quân đầu người cao hơn có xu hướng đạt được kết quả giảm nghèo đói khả quan hơn. Những kết quả còn cho thấy rằng tài chính vi mô không chỉ làm giảm tỷ lệ đói nghèo mà còn giảm chiều sâu và mức độ nghiêm trọng của nó.
Nghiên cứu này rất hữu ích trong việc thêm bằng chứng xác thực về việc các tổ chức tài chính vi mô gặp trở ngại dẫn tới sẽ làm ton thương người nghèo. Các tô chức tài chính vi mô bền vững có thể giúp ngăn ngừa vấn đề của đói nghèo mà nguyên nhân sâu xa của nó là sự phục hồi chậm và sút kém của nền kinh tế toàn cầu. - Nguyen Viet Cuong (2011), “Can Vietnam achieve the millennium dvelopment goal on poverty reduction in high inflation and economic stagnation?”, The Developing Economies, Volume 49, Issue 3, p. 297-320: Bao cao cho thay một trong những MDG mà Việt Nam cam kết thực hiện là giảm đói nghèo tổng quát và giảm đói nghèo lương thực.
Mặc dù Việt Nam đã đạt được những thành tựu nồi bật trong công tác xóa đói giảm nghèo thời gian gần đây nhưng Việt Nam có thể không đạt được mục tiêu MDG trong lĩnh vực xóa đói giảm nghèo bởi lạm phát cao và kinh tế đình trệ. Bài nghiên cứu sử dụng khảo sát mức sống của các hộ gia đình Việt Nam trong các năm 2002, 2004, 2006 dé dự báo tỷ lệ nghèo đói vào năm 2008 và 2010 dé kiểm tra xem liệu Việt Nam có đạt mục tiêu MDG trong lĩnh vực xóa đói giảm nghèo hay không. Dự báo còn tính đến lạm phát cao năm 2008 và kinh tế đình trệ giai đoạn 2008-2009, và chỉ ra rằng Việt Nam có thê đạt được MDG về giảm nghèo tổng quát nhưng có thé không đạt được MDG về giảm nghèo lương thực. - Lanjouw, Peter; Marra, Marleen; Nguyen, Cuong (2013), Vietnam's Evolving Poverty Map: Patterns and Implications for Policy, World Bank, Washington, DC, https://openknowledge.org/handle/10986/13156: công trình nghiên cứu đã sử dung các công cụ tính toán theo khu vực nhỏ dé cập nhật tình hình đói nghèo tại các tỉnh và quận, huyện, thị xã đến năm 2009.
Theo nghiên cứu thì nghèo đói vẫn chiếm tỷ lệ cao nhất ở miền núi phía bắc và miền núi miền trung, những nơi mà đồng bao dân tộc thiểu số chiếm phan lớn dân cư. Mặc dù tỷ lệ nghèo đói đã giảm xuống ở hầu hết các tỉnh, quận, huyện, thi xã trong 10 năm qua, những tốc độ giảm nghèo vẫn chưa đạt được ở những nơi có nghèo đói ban đầu hoặc mức độ bat bình dang. Điều đó làm cho người nghèo ngày càng nghèo hơn. Vì vậy, cần phải dựa vào điều kiện địa lý cụ thể để đưa ra các chính sách xóa đói giảm nghèo phù hợp.
- Dang, Hai-Anh H. (2014), Welfare Dynamics Measurement: Two Definitions of a Vulnerability Line and Their Empirical Application, World Bank Group, Washington, DC, https://openknowledge.org/handle/10986/18831: Bài nghiên cứu tập trung vào những đối tượng dễ bị ton thương — phân biệt nhóm dân cư nghèo đói với nhóm dân cư không nghèo đói những vẫn phải đối mặt với nguy cơ tái nghèo. Thông qua việc sử dụng các dữ liệu từ Mỹ, Việt Nam và Ấn Độ, báo cáo cho thấy rằng trong cùng thời điểm này, lượng dân cư nghèo đã giảm xuống và có thu nhập trung bình đã tăng lên, trong khi ở Mỹ lại có kết quả ngược lại. - Kozel, Valerie (2014), Well Begun but Not Yet Done: Progress and Emerging Challenges for Poverty Reduction in Vietnam, World Bank Group, Washington, DC, https://openknowledge.org/handle/10986/20074: Báo cáo đã dua ra cái nhìn tổng quan về xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam, trong đó tập trung vào những thành công ấn tượng trong tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo nhưng bên cạnh đó báo cáo cũng chỉ ra răng những thách thức lớn vẫn còn tổn tai; cập nhật chuẩn nghẻo ở Việt Nam; đánh giá thực trạng đói nghèo ở Việt Nam; phân tích, so sánh quy mô đói nghèo ở Việt Nam năm 1999 với năm 2009: đề cập đến công tác xóa đói giảm nghèo cho người dân tộc thiêu số và đề ra câu hỏi liệu bất bình đắng có đang ngày càng tăng lên ở Việt Nam và đưa ra một số gol y.
- Demombynes, Gabriel; Hoang Vu, Linh (2015), Demystifying Poverty Measurement in Vietnam, World Bank Group, Washington, DC, https://openknowledge.org/handle/10986/21691: Nghiên cứu cung cấp các cách đo đói nghèo ở Việt Nam cho những người không chuyên. Theo nghiên cứu này, Việt Nam có 2 cách để đo đói nghèo, cách tiếp cận theo thu nhập được Bộ Lao động, Thương Binh và Xã hội sử dụng dé phân loại đói nghẻo và sử dụng trong các chương trình giảm xóa đói giảm nghẻo trong thời gian ngăn. Bên cạng đó, cách tiếp cận dựa trên chi tiêu được Tổng cục Thống kê và Ngân hàng Thế giới sử dung dé đo lường những thay đôi về đói nghèo trong thời gian dai. Chuẩn đói nghèo của Việt Nam là 1,25 USD/ngay so với chuẩn đói nghèo quốc tế là 2 USD/ngày.
Chuẩn đói nghèo quốc gia theo Tổng cục Thống kê là tương tự xét về ngang giá sức mua so với các quốc gia khác có cùng trình đô phát triển. Theo dự báo thì tỷ lệ đói nghèo ở Việt Nam sẽ giảm từ 17,2% năm 2012 xuống còn dưới 10% vào trước năm 2020, nhưng hon 1/3 đồng bao dân tộc thiểu số van ở trong tinh trạng đói nghèo. Các nghiên cứu trên đã đưa ra cái nhìn tổng quát về xóa đói giảm nghèo nói chung và xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam nói riêng. Có thé nói đây là cơ sở lý luận cơ ban dé tác giả tham khảo trong việc hoàn thành luận văn và năm được tình hình tổng quát nhất về công tác xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam.
Tình hình nghiên cứu trong nước Đói nghèo là vấn đề kinh tế - xã hội dành được sự quan tâm lớn của cộng đồng xã hội bởi nó tác động đến tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội và đến sự phát trién của một quốc gia, vùng, miền hay của ban thân mỗi người. Vì vậy đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều chương trình, đề án đề cập đến van đề xóa đói giảm nghèo ở trong nước với nhiều góc độ khác nhau. * Dưới dạng báo cáo, đề án, đề tài - Bộ Lao động, Thương Binh và Xã hội (2003), Bdo cdo sơ kết thực hiện chương trình, mục tiêu xóa đói giảm nghèo và việc làm 2001-2003, nhiệm vụ và giải pháp, Hà Nội: Báo cáo đã sơ kết việc thực hiện chương trình, mục tiêu xóa đói giảm nghèo và việc làm trong giai đoạn 2001-2003, rút ra những thành tựu đạt được và nguyên nhân, những hạn chế còn tồn tại va nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế đó; từ đó báo cáo sơ kết đề xuất mé số nhiệm vụ và giải pháp nhằm thực hiện chương trình, mục tiêu xóa đói giảm nghèo trong giai đoạn 2004-2005. Palanivel (2004), Chính sách và tăng trưởng vì người nghèo - Kinh nghiệm châu A, ADB, cho rang: việc theo đuôi tăng 10 trưởng phải đi kèm với nỗ lực đạt được tăng trưởng vì người nghèo thông qua việc tái phân bồ tài sản và thu nhập trong nền kinh tế và điều này có ý nghĩa lớn trong xác định bản chất của chiến lược chống đói nghèo.
Thực tế một số quốc gia có tốc độ giảm nghèo hạn chế trong khi thành tích tăng trưởng kinh tế đầy ấn tượng, còn một số khác lại có tốc độ giảm nghẻo cao trong khi tăng trưởng kinh tế là tương đối thấp.