Chương 1: Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội. Chương 2: Giải quyết vấn đề công bằng xã hội trong quá trình tăng trưởng kinh tế ở Hàn Quốc. Chương 3: Một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam. 6 z CHƢƠNG I: MỐI QUAN HỆ GIỮA TĂNG TRƢỞNG KINH TẾ VÀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI 1.
Tăng trƣởng kinh tế và công bằng xã hội: Khái niệm, thƣớc đo. Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội là mục tiêu, ước vọng của tất cả các dân tộc và của mọi thời đại. Tuy nhiên, việc đạt được mục tiêu kép này là không dễ dàng và trong thực tiễn đã có nhiều bằng chứng về sự đối lập giữa tăng trưởng và công bằng. Các chính sách dựa trên mục tiêu công bằng có thể dẫn đến triệt tiêu các động lực tăng trưởng kinh tế.
Ngược lại, các chính sách chỉ nhằm vào tăng trưởng có thể làm cho bất bình đẳng tăng lên. Như vậy cần có sự kết hợp hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội. Tăng trƣởng kinh tế. Tất các các quốc gia trên thế giới, không phân biệt khuynh hướng chính trị, khi đã giành được độc lập, có chủ quyền, đều xác lập cho mình chiến lược phát triển kinh tế xã hội.
Những mục tiêu phát triển đều dựa vào khả năng khai thác nguồn lực trong nước và nước ngoài. Mỗi quốc gia trên thế giới đều có sự kết hợp và khả năng khai thác các nguồn lực khác nhau. Song, quan niệm chung nhất là phải tạo ra được sự tiến bộ toàn diện cả về kinh tế và xã hội, trong đó tăng trưởng được coi là tiền đề cần thiết cho sự phát triển. Tăng trưởng kinh tế mới chỉ giới hạn trong khuôn khổ làm tăng thêm sản lượng bằng cách mở rộng qui mô, chứ chưa đề cập đến mối quan hệ của nó với các vấn đề xã hội.
Tăng trưởng kinh tế được biểu hiện một cách phổ quát theo quan điểm kinh tế học là sự tăng sản lượng thực tế của một nền kinh tế theo thời gian. Tăng trưởng kinh tế theo nghĩa này thường được đo lường bằng sự gia tăng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) theo thời gian hoặc tăng thu nhập 7 z theo đầu người. Nói cách khác, tăng trưởng kinh tế chỉ thể hiện mặt lượng của nền kinh tế theo thời gian. Để biểu thị sự tăng trưởng kinh tế, người ta thường dùng mức tăng lên của GNP hay GDP.
Mức tăng đó thường tính trên toàn bộ nền kinh tế quốc dân, hay tính bình quân theo đầu người của thời kỳ sau so với thời kỳ trước đó. Khi đo lường sự tăng trưởng người ta thường sử dụng các số đo tuyệt đối và số đo tương đối. Mức tăng trưởng tuyệt đối: Có thể được tính theo hai phương pháp. - Theo tổng sản phẩm (GNP hoặc GDP) của nền kinh tế ∆Y = Yn - Yn-1 Trong đó: ∆Y: tổng sản phẩm tăng thêm của năm n so với năm gốc.
Yn: tổng sản phẩm của năm n. Yn-1: tổng sản phẩm của năm trước đó. - Theo tổng sản phẩm bình quân đầu người: ∆y = yn - yn-1 Trong đó: ∆y: Tổng sản phẩm bình quân đầu người của năm n so với năm gốc. yn: Tổng sản phẩm bình quân đầu người của năm n.
yn-1: Tổng bình quân dầu người của năm trước đó. Mức tăng trưởng tương đối (hay còn gọi là tốc độ tăng trưởng), được tính theo tỷ lệ phần trăm (%) cũng theo hai phương pháp. - Theo tổng sản phẩm (GNP hoặc GDP) của nền kinh tế: Yn – Yn-1 ∆Y g (Y) = x 100 = Yn-1 Yn-1 Trong đó: g (Y): Tốc độ tăng trưởng của toàn bộ nền kinh tế. 8 z - Theo tổng sản phẩm bình quân đầu người yn –yn-1 ∆y g(y) = x 100 = yn-1 yn-1 Trong đó: g(y): Tốc độ tăng trưởng của tổng sản phẩm bình quân đầu người.
Tất cả các chỉ tiêu phản ánh mức tăng trưởng kinh tế như GNP, GDP hay GNP, GDP bình quân đầu người … đều được tính theo hai loại giá: giá hiện hành và giá cố định. Giá hiện hành là giá phát sinh trong quá trình giao dịch, trao đổi thực tế của năm báo cáo. Giá cố định là giá hiện hành của một năm nào đó được chọn làm gốc. Trên cơ sở đó, người ta tính đổi các chỉ tiêu kinh tế của các năm khác theo giá năm gốc.
Mục đích ở đây là để loại trừ sự ảnh hưởng của yếu tố giá cả đến các chỉ tiêu kinh tế trong mỗi năm nhằm đánh giá sự thay đổi thuần về khối lượng sản phẩm hàng hoá và dịch vụ. Phát triển kinh tế. Mục tiêu của mỗi quốc gia là tạo ra sự tiến bộ toàn diện, mà sự tăng trưởng kinh tế là một điều kiện quan trọng. Sự tiến bộ của quốc gia trong một giai đoạn nhất định được xem xét trên hai mặt: sự gia tăng về kinh tế và sự tiến bộ về xã hội.
Sự gia tăng về kinh tế còn được thay thế bằng thuật ngữ tăng trưởng kinh tế. Tăng trưởng kinh tế tác động thúc đẩy sự tiến bộ về mọi mặt của xã hội, hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý là nội dung của phát triển kinh tế. Phát triển kinh tế bao hàm ý nghĩa rộng lớn - Nó không chỉ bao gồm những thay đổi về số lượng như tăng trưởng kinh tế, mà còn bao gồm cả những thay đổi về chất lượng cuộc sống. Như vậy, phát triển kinh tế có thể hiểu là một quá trình tăng tiến về mọi mặt của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định.
9 z Phát triển kinh tế là phạm trù kinh tế - xã hội rộng lớn, mà trong khuôn khổ một định nghĩa hay một khái niệm ngắn gọn không thể bao hàm hết được nội dung rộng lớn của nó. Song, nhất thiết khái niệm đó phải phản ánh được nội dung cơ bản sau: - Sự tăng lên về quy mô sản xuất, làm tăng thêm giá trị sản lượng của cải vật chất, dịch vụ và sự biến đổi tích cực về cơ cấu kinh tế, tạo ra một cơ cấu kinh tế hợp lý có khả năng khai thác hiệu quả nguồn lực trong nước và nước ngoài. - Sự tác động của tăng trưởng kinh tế làm thay đổi cơ cấu xã hội, cải thiện đời sống dân cư, giảm bớt đói nghèo, rút ngắn khoảng cách giữa các tầng lớp dân cư, bảo đảm công bằng xã hội. - Sự phát triển là quy luật tiến hoá, song nó chịu tác động của nhiều nhân tố, trong đó nhân tố nội lực của nền kinh tế có nhiều ý nghĩa quyết định, còn nhân tố bên ngoài có vai trò quan trọng.
Phát triển kinh tế phản ánh sự vận động của nền kinh tế từ trình độ thấp lên trình độ cao hơn. Phát triển bền vững Khái niệm phát triển bền vững lần đầu tiên được công bố trong một bài báo có nhan đề “Tương lai cho chúng ta” của tác giả Gro Harlem Brundland, một nhà môi trường người Na Uy làm việc trong Uỷ ban quốc tế về môi trường và phát triển (WCEB). Theo bà Brundland, phát triển bền vững được hiểu là kiểu phát triển vừa đáp ứng được nhu cầu của các thế hệ hiện tại, vừa không ảnh hưởng đến khả năng mà các thế hệ tương lai đáp ứng các nhu cầu của mình. Tháng 6 năm 1992, Hội nghị thượng đỉnh về môi trường và phát triển họp tại Rio de Janiero đã đưa ra bản tuyên ngôn “Về môi trường và phát triển” về “Chương trình nghị sự 21” và đưa ra định nghĩa về phát triển bên vững là “sự phát triển nhằm thoả mãn nhu các nhu cầu hiện tại của con người, nhưng 10 z không làm tổn hại tới sự thoả mãn các nhu cầu của thế hệ tương lai”.
Hội nghị cũng đã coi “phát triển bền vững là mục tiêu lâu dài đạt được của mọi quốc gia”, của mọi hoạt động nhằm thúc đẩy tăng trưởng, nhưng cũng tìm mọi phương cách để giảm thiểu tác hại của tăng trưởng kinh tế đến môi trường sống của xã hội loài người. Nhà nước ta đã đưa ra quan niệm chính thức về phát triển lâu bền là “thoả mãn những nhu cầu cơ bản về vật chất, tinh thần và văn hoá cho thế hệ hiện tại và tương lai của Việt Nam thông qua việc quản lý một cách khôn khéo tài nguyên thiên nhiên. Xây dựng và thực hiện các chính sách, kế hoạch hành động và cơ chế tổ chức nhằm đảm bảo cho khả năng sử dụng lâu bền các tài nguyên thiên nhiên được nhất thể hoá và liên kết chặt chẽ với tất cả các khía cạnh của quá trình phát triển kinh tế và xã hội của đất nước” [29] Như vậy, phát triển bền vững là sự phát triển hài hoà giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần, giữa thiên nhiên và con người, giữa tự nhiên và nhân tạo, giữa hiện tại và tương lai. Sự phát triển đó nhằm đáp ứng nhu cầu hiện tại nhưng không làm tổn hại đến sự phát triển của xã hội tương lai.
Nội dung của khái niệm phát triển bền vững được quan niệm bao gồm: - Sự duy trì một tốc độ tăng trưởng kinh tế trong một thời gian dài - Tăng trưởng kinh tế gắn liền với bảo vệ, gần gũi với môi trường để đảm bảo tài nguyên thiên nhiên cho các thế hệ sau vẫn có điều kiện phát triển. Khi xem xét mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội, khái niệm tăng trưởng được hiểu theo nghĩa rộng hơn. Walter Rostow đã dùng khái niệm tăng trưởng để đưa ra một lý thuyết tổng quát về sự phát triển. Ông chia quá trình phát triển của xã hội loài người thành năm giai đoạn tăng trưởng từ xã hội truyền thống đến xã hội hiện đại.
Quan niệm này rõ ràng là nhấn mạnh đến nội dung kinh tế của quá trình phát triển, hay nói cách khác, tăng trưởng kinh tế là điều kiện tiên quyết cho phát triển. Và cũng chính vì 11 z vậy, nó bộc lộ những khiếm khuyết và làm nảy sinh nhiều câu hỏi. Thứ nhất, liệu tăng trưởng kinh tế có tự động đưa đến phát triển hay không, nói cách khác tăng trưởng kinh tế có đảm bảo giải quyết tất cả các vấn đề xã hội liên quan đến sự phát triển hay không? Thứ hai, liệu tăng trưởng kinh tế có thể diễn ra liên tục trong những điều kiện bất bình đẳng xã hội hay không? Những câu hỏi này đã được các nhà nghiên cứu về phát triển trả lời và quan điểm khá phổ biến hiện nay là không thể đồng nhất tăng trưởng kinh tế với phát triển.