Chương 1. Những vấn dé lý luân vẻ pháp điển hệ thông quy phạm. pháp luật của Việt Nam. Thực trang Bộ pháp điển và công tác xây dựng Bd pháp.
điển của Việt Nam hiện nay. Mét số giải pháp nhằm nâng cao chất lương, hiểu quả xây, dựng Bộ pháp điển của Việt Nam hiện nay. CHUONG1 NHUNG VAN DE LY LUẬN VE PHÁP BIEN HỆ THONG QUY PHAM PHAP LUAT CUA VIET NAM 111. Một số vấn dé ly luận về pháp điển hệ thống quy phạm pháp Mật 1.
Khái niệm về pháp dién và pháp dién hoa HE thống hỏa pháp luật là hoạt đông nhằm sắp xếp, hoàn thiện các QPPL, văn ban pháp luật, chân chỉnh thành hệ thống có sự thông nhất nội tại theo một trình tự nhất định Hệ thống hóa pháp luật có hai dạng là tập hợp hóa ‘va pháp điển hóa. Trong đó, tập hợp hóa pháp luật là sắp xép các văn bản QPPL theo thời gian ban hành, theo cơ quan ban hảnh hoặc theo lĩnh vực quản lý nha nước,. Nội dung các văn bản QPPL theo thời gian ban hành. Về pháp điển hóa, trước hết, tác giả làm rõ khái niệm pháp điển.
Thuật ngữ "pháp điển" hay tiếng Anh là “codification” đi từ gốc “code” có nghĩa pháp lý thông dung là "bộ luật” - có gốc là một từ Latin “Codex”. Trước đây, vào thời La Mã cỗ dai, “Codex” được sử dụng dé chi các cuốn sách đóng gay, thay thé cho sách ống cuộn trước đó - đây lá hình thức pháp điển sơ khai. Lúc đâu, đó là những tắm ván gỗ mỏng được làm thành bảng để viết lên trên, sau. đó dẫn được chế tạo ti mi va ghép lại với nhau thành “Codex” - "Tập sách gố' nhằm thu thập, biên tập lại các bản chép tay trước đó.
Cac nhà nghiền cứu lịch sử đã tim ra những bộ luật cổ xưa lả minh chứng cho việc pháp điển hóa như: BO cỗ luật cia Ur-Nammou (thé kỹ XI TCN); Bồ cỗ luật Eschouna (thé kỹ ‘XIX TCN); đặc biết là Bô luật nỗi tiếng Hamnnurabi (thé kỹ thứ XIV TƠN). Ở Việt Nam, “Pháp điển” là một từ Việt cũ, trong đó “pháp” có nghĩa là pháp luật, “điển” có nghĩa la chuẩn mực hoặc sách được coi la mẫu mực (như từ điển - có nghĩa lả cuốn sách chuẩn mực về từ ngữ). Một số từ điển Hán Việt giải thích pháp điển la một từ Việt cũ, một danh từ ding để chỉ bộ luật. Như vậy, có thể hiểu pháp điển la bộ luật - tương đương với “code” trong tiếng.
Anh Đến nay, sau những biển động lich sử, những biển chuyển vẻ khái niém, quan điểm pháp điển, tùy theo quốc gia, văn hóa và hoàn cảnh lịch sit ma mỗi nước tiên hanh pháp điển khác nhau. Nhưng về cơ bản, có thể hiểu chung là: Pháp điển lả một văn bản mới được xây dựng trên cơ sở tổng hợp. các văn bản từ nhiều nguén khác nhau. Văn bản mới có tính quy mô lớn hơn, các quy định được sắp xép khoa học hơn giúp cho việc tra cứu được dé dang, thuận lợi (như các bô luật, bô luật pháp điễn - khác các văn bản đơn lê) Tuy nhiên, trong may thâp kỷ gan đây, số lượng các văn bản QPPL gia tăng nhanh chóng và một yêu cầu khách quan đất ra là phải có những mô hình xây dựng và kiểm soát pháp luật một cách hợp lý và hiệu quả.
Chính vì vậy, một số quốc gia đã tiền hành pháp điển tổng thể toản bộ hệ thông pháp luật của mình cùng một lúc nên cách lâm cũng sé khác nhau. Xu hướng náy đang phat triển manh mẽ ở một sổ nước, đặc biệt là các nước theo hệ thông luật thảnh văn. Vì vậy, không thé đưa ra được một khái niệm vừa khái quát, via đây đủ để giải thích thé nào là pháp điển ma dua vao tinh chat lam pháp điển. ở mỗi nước thì đưa ra khái nhiệm về pháp điển khác nhau.
Tuy nhiên, về co ‘ban, hiện nay có thé chia thảnh hai hình thức pháp điển: Pháp điển về mặt nội dung và pháp điển về mặt hình thức. (1) Pháp điễn về mặt nội ching (substantive codification): Đây là một văn ban pháp luật mới được xây dựng trên cơ sở nhiều văn ban QPPL hiện. ‘hanh với sự sửa đổi, bổ sung, điều chỉnh để phủ hợp với thực tiễn Các Bộ luật cia nước ta như Bộ luật hình sự, Bồ luật dân sư, Bộ luật lao déng. lả các bộ luật pháp điển vẻ nội dung.
Cách thức xây dựng các bộ luật pháp điển nảy giống như hoạt đông lập pháp thông thưởng. Mặc dù có nhiều ưu điểm nhưng pháp điển vé mất nội dung có những hạn chế như. khó, mat nhiễu thời gian, chỉ thực hiện pháp điển doi với từng lĩnh vực một ma không pháp điển tổng lệ thống QPPL được. Trong khi đó, nhu cu rat lớn của các chủ thể trong 24 hội lả có thé dé dang tiếp cận với các QPPL do nhà nước ban hành theo các lĩnh vực khác nhau.
Diéu nay chỉ có thể giải quyết được thông qua việc sử dụng cách thức pháp điển vé hình thức với những wu thể về tính ting thể và tính thực dụng của nó. (2) Pháp điễn hình thức (formal codification): Cũng là một văn ban pháp luật mới được xây dựng trên cơ sở nhiều văn ban QPPL hiện hành. Tuy nhiên, các quy định trong Bộ pháp điển nay chủ yêu được tập hop, sắp xếp lai theo một trật tư logic, khoa học từ các quy định trong nhiều văn bản đơn lễ mã gần như không có chỉnh sửa vé mặt nội dung, Việc sửa đổi chủ yếu là những kỹ thuật hay nội dung cân thiết nhằm mục đích tao nên sự hai hòa giữa các quy định, bao dam trật tự của Bộ pháp điển ma không nhằm tới mục đích. tạo ra những chính sách pháp luật mới.
‘Theo đó, pháp điển hoá được hiểu là hoạt động của cơ quan nha nước có thẩm quyên trong đó không những tập hợp các văn bản đã có theo một trình tự nhất định, loại bé những quy định cia pháp luật lỗi thời, ma còn xây dựng những quy định mới để thay thé cho các quy định đã bi loại bỏ va khắc phục những chỗ trồng được phát hiện trong qua trình tập hợp văn bản, sửa đổi các quy phạm hiên hành, nêng cao hiệu lực pháp lý của chúng. Kết quả của công việc pháp điển hoá 1a một văn bản QPPL mới ra đời (bộ luật pháp điển). Đó là một bộ luật ứng với một ngành luật nhất định hay một văn bản điều lê tập hợp các QPPL cho một lĩnh vực nhất định, trong đó các QPPL được sắp xếp một cách logic, chặt chế va nhất quán. Như vậy, hoạt động pháp điển hoa rat gin với khái niệm sáng tao pháp luất (hay hoạt động xây dựng pháp luập"? Tir điễn Luật học do Nhà xuất ban Từ điển bách khoa xuất bản năm.
1990 giải thích: "Pháp điển hoá là làm thánh một pháp điển (bô luật), tức là tập hợp, hệ thống hoá các văn bản pháp luật hiện hành, xem xét nội dung loại bỏ những điển kiên không còn phủ hop, mâu th 1, chồng chéo, bé sung những điều kiện còn thiểu, những điều cân dự liệu đáp ứng yêu cầu phát triển các quan hệ xã hội để ban hanh thành bộ luật. Pháp điển hoa là hoạt động lập pháp khác với hệ thống hoá pháp luật la một hoạt động có tính chất chuyên môn hảnh chính”, Từ điễn Bách Rhoa Việt Nam đưa ra khải niệm: "Pháp điễn hoa là sây dựng bô luật, đạo luật trên cơ sở tập hợp, hé thống hoa các van bản pháp luật hiên hành, loại bd các quy định không phủ hợp, bỗ sung, dư liêu những quy. định đáp ứng sự điều chỉnh pháp luật đối với những quan hệ xã hội đang phat triển"! Từ điễn thuật ngit If luận nhà nước và pháp luật năm 2008 thì "Pháp điển hoá là hình thức hệ thông hoá pháp luật trong đó, cơ quan aha nước có thấm quyên tập hợp, sắp xép các QPPL, các ché định luật, các VBQPPL trong. ngành luật theo trình tự nhất định, loại bỗ những mâu thuẫn chẳng chéo, các quy định lỗi thời và bổ sung những quy định mới.
Kết quả của pháp điển hoá. 2 1ã Minh Tâm, Giáo trình Lý luận nhà nước và pháp luật, Neb. Công an nhân dân, Hà Nội, 1999 tr. 3 Từ dién Luật hoc, Nib Từ dén Bách khoa, Hà Nai, 1999 tr 351.
* Tiediin Bách fia Hật Nom, Nò Đà Nẵng Hà NB - Đì Nẵng 1998, tr 419 10 Ja VBQPPL mới trên cơ sở kế thừa vả phát triển các QPPL cũ ma điển hình lá bộ luật”. ‘Nhu vậy, theo hau hết các nha nghiên cứu cũng như các học giả ở Việt ‘Nam thì pháp điển hoa được hiểu là một hoạt động lập pháp vả kết quả cuối. củng của nó là các van bản có mức đô tổng hop cao, thưởng la các bộ luật hoặc các đạo luật có pham vi quy định tương đôi rộng (như Bộ luật Lao đông, Bộ luật Dân sự.) ‘Tw những phân tích trên, chúng ta có thé di đến cách hiểu về pháp điển. ‘hoa như sau: Pháp điển hoá 1a hình thức cao nhất của hệ thông hoá pháp luật theo đó các cơ quan nha nước có thẩm quyển tiến hanh tập hợp, sắp xép những văn bản đã có theo một trình tự nhất định, đồng théi loại bỗ những QPPL lỗi thời, lạc hậu, chẳng chéo, xây dựng những QPPL mới, khắc phục những chỗ trồng đã được phát hiện trong quá trình tập hop vén bản, sửa đổi các QPPL hiện hành nhằm nâng cao hiệu lực pháp ly của chúng, Do vậy, kết quả của công tác pháp điển hoá thông thường 1a bộ luật, trong đó thể hiện một cách cơ ban nội dung của vẫn dé mã pháp luật cân điêu chỉnh Nhờ đó, sau khi pháp điển hoá, chúng ta có một văn ban không những lớn vé phạm vi điều chỉnh ma còn có cơ câu bên trong hợp lý vả khoa học.
Việc pháp điển hoa sẽ tao ra một hệ thống pháp luật toan điện, đồng bộ va thông nhất. Đây chính là những tiêu chi quan trong để đánh giá mức độ hoan thiên hệ thông pháp luật của một quốc gia nhất định. "Tóm lại, trong khi hoạt động lập pháp mang tính chỉnh tri thi hoạt động pháp điển hóa mang nhiều tính kỹ thuật, làm cho các chính sách pháp luật được thể hiện dưới những hình thức cau trúc có tính logic, có hệ thông va dé tiếp cận. Vì vây, có thé so sánh hoạt đông làm luật như việc sin xuất ra các * Ta Vinh Thắng, Tit đẫn giã thích uất ngữ lý hiển nhà nước và pháp lui, Neb Công annhân dân, Hà NG, 2008, tr 203, 204 ir sản phẩm còn hoạt động pháp điển là việc dong gỏi, sắp.