CHƯƠNG I QUYỀN TƯ PHÁP VÀ VIỆC THỰC HIỆN QUYỀN TƯ PHÁP TRONG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN VIỆT NAM XÃ HỘI CHỦ NGHĨA CỦA NHÂN DÂN, DO NHÂN DÂN, VÌ NHÂN DÂN I. QUYỀN TƯ PHÁP THEO QUAN ĐIỂM TỔ CHỨC, THỰC THI QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC TRONG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN VIỆT NAM XÃ HỘI CHỦ NGHĨA. Cho đến nay, trong các công trình nghiên cứu khoa học pháp lý cũng như trong thực tiễn đời sống chính trị - pháp luật của Việt Nam còn có nhiều cách hiểu khác nhau về quyền tư pháp, cơ quan tư pháp mà phần không nhỏ là do góc nhìn, cách tiếp cận khác nhau. Sự thiếu thống nhất trong quan niệm và nhận thức về nội dung, vị trí của quyền tư pháp, hoạt động tư pháp, cơ quan tư pháp trong bộ máy nhà nước thể hiện không chỉ trong các tài liệu nghiên cứu mà còn ngay trong các văn kiện chính thức của Đảng và Nhà nước về nhà nước nói chung, về tổ chức, hoạt động của các cơ quan tư pháp nói riêng.
Có thể khái quát một số cách tiếp cận chính về quyền tư pháp trong các tài liệu nghiên cứu hiện nay. Tư pháp từ góc độ ngữ nghĩa Hán – Việt, được hiểu là trông coi, bảo vệ pháp luật. Từ điển Hán - Việt của Đào Duy Anh giải thích tư pháp là pháp đình y theo pháp luật mà xét định các việc ở trong phạm vi pháp luật[2]. Tư pháp, dịch từ thuật ngữ Justice có hai nghĩa – theo nghĩa hẹp, tư pháp là xét xử; theo nghĩa rộng, từ góc độ triết lý, tư pháp được coi là ý tưởng cao đẹp về một nền công lý, ở đó, mọi vi phạm pháp luật đều được phát hiện và xử lý nghiêm minh, mọi tranh chấp trong xã hội được giải quyết hợp với lẽ phải và sự công bằng, các quyền tự do, dân chủ cơ bản của con người được bảo đảm, lòng tin của nhân dân vào pháp luật được duy trì[3].
Từ góc độ tổ chức quyền lực nhà nước, theo học thuyết phân chia quyền lực khá phổ biến ở các nhà nước tư sản, tư pháp là một nhánh quyền lực độc lập với quyền lập pháp, quyền hành pháp và đồng nghĩa với quyền xét xử (tài phán) do toà án thực hiện[4]. Trong khi đó, khá phổ 2 Đào Duy Anh – Từ điển Hán – Việt, Nxb TP. Hồ Chí Minh, 1966 3 Nguyễn Đình Lộc- “Vấn đề đổi mới tổ chức và hoạt động các cơ quan tư pháp ở nước ta”- Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số chuyên đề 6/1995, tr. 4 Hiến pháp của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, điều III, khoản 1 – “Quyền lực tư pháp của Hoa Kỳ sẽ được trao cho Toà án tối cao và những toà án cấp dưới mà Quốc hội có thể thiết lập trong một số trường hợp”- Hiến pháp Nhật 17 biến ở các nước xã hội chủ nghĩa trước đây và hiện nay, quyền tư pháp được giao cho các cơ quan bảo vệ pháp luật[5].
Ở Việt Nam, xuất phát từ nguyên tắc hiến định về tổ chức quyền lực nhà nước đã được xác lập tại Điều 2 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi năm 2001) “Quyền lực Nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”, Đề tài này sẽ nghiên cứu, luận giải quyền tư pháp từ góc độ tổ chức, thực thi quyền lực nhà nước trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Quyền tư pháp trong tổ chức, phân công lao động quyền lực nhà nước Quyền lực nhà nước, xét theo thuộc tính, là một loại quyền lực xã hội đặc thù, được biểu hiện bằng một thiết chế xã hội đặc thù là bộ máy nhà nước. Không có bộ máy nhà nước để biểu hiện thành một hiện thực sức mạnh, một lực lượng xã hội thì quyền lực nhà nước sẽ trở nên vô định, vô hiệu. Quyền lực nhà nước luôn là một thể thống nhất và được thực hiện bằng những phương thức, nguyên tắc đặc thù của bộ máy nhà nước theo một mục tiêu, định hướng nhất quán.
Đặc trưng của quyền lực nhà nước là nó tồn tại trong tư thế thường trực, vận hành thường xuyên không đứt đoạn theo một quy trình chặt chẽ có tính tái diễn liên tục, tương tự như một dòng điện xoay chiều, không ngừng, thông qua những khâu đoạn nhất định. Ở từng khâu đoạn, quyền lực nhà nước được biểu hiện thành những thao tác nhất định, do những con người nhất định thực hiện, bằng những phương thức đặc thù, riêng biệt. Như vậy, quyền lực nhà nước trong vận hành, thực thi gắn liền một cách hữu cơ với hoạt động của con người, với bộ máy. Hoạt động vận hành quyền lực nhà nước trở thành một loại hình lao động đặc thù, có thể gọi bằng một tên chung là lao động quyền lực.
Lao động quyền lực ra đời là kết quả của sự phân công lao động xã hội của loài người. Trong quá trình vận hành, qua sự phát triển của lao động quyền lực thuộc các chế độ xã hội khác nhau, trước nhu cầu phân loại hoá, khâu đoạn hoá quy trình thực thi quyền lực nhà nước, trước nhu cầu bảo đảm tính liên tục và một năng suất lao động quyền lực ngày càng cao hơn, đã xuất hiện sự phân công trong nội bộ bản thân lao động Bản, điều 76- “Toàn bộ quyền tư pháp được giao cho Toà án tối cao và các Toà án cấp dưới được thành lập theo pháp luật. Lập pháp, hành pháp, tư pháp với tính cách là những phương thức thực thi, thể hiện quyền lực nhà nước là kết quả của sự phân công nội bộ ở từng khâu đoạn của quy trình lao động quyền lực nhà nước. Sự định hình lao động lập pháp, hành pháp, tư pháp không phải là sản phẩm chủ quan, duy ý chí của con người mà bắt nguồn từ đặc trưng, tính khác biệt trong sự vận hành của quyền lực nhà nước ở các khâu đoạn khác nhau mà nếu thiếu một trong các khâu đoạn ấy quyền lực nhà nước sẽ không thể vận hành xuôn sẻ, không thể hiện được sức mạnh và hiệu lực của mình.
Lập pháp là chức năng xã hội - chính trị đặc thù của Nhà nước nhằm thể chế hoá nhu cầu xã hội thành các quy tắc xử sự có tính quy phạm, khuôn mẫu, phù hợp với ý chí của chủ thể cầm quyền, có tính bắt buộc chung đối với toàn xã hội.Angghen đã kiến giải chức năng chính trị - xã hội của quyền lập pháp rất đặc sắc: “Cũng như đối với từng người riêng biệt, tất cả những động lực thúc đẩy hành động của con người đều nhất định phải qua đầu óc người đó, đều phải chuyển thành động cơ, ý chí của người đó để đưa người đó vào hành động, tất cả các nhu cầu của xã hội công dân - dù giai cấp nào đang thống trị - đều nhất thiết phải thông qua ý chí của nhà nước để có được giá trị bắt buộc chung, dưới hình thức một đạo luật”[6]. Môngteskiơ đã xác định cách thức thực hiện quyền lập pháp “Quyền lập pháp thể hiện ý chí chung của Quốc gia phải được giao cho một cơ quan đại diện bao gồm những người do dân chúng bầu ra”[7]. Hành pháp là một phương diện hoạt động, một chức năng chính trị- xã hội khác của Nhà nước, đó là tổ chức thi hành, thực hiện pháp luật. So với lập pháp, chức năng hành pháp được thực hiện theo quy trình ngược lại, nghĩa là lấy chính pháp luật đã ban hành làm cơ sở để triển khai, tổ chức đưa pháp luật trở về với xã hội, làm cho luật pháp “thấm vào” từng quan hệ xã hội hay nói cách khác, quyền hành pháp chính là quyền quản lý các mặt của đời sống xã hội theo pháp luật và bằng pháp luật.
Đặc trưng của hành pháp là thừa hành, căn cứ vào pháp luật để tổ chức thi hành pháp luật trên quy mô toàn xã hội. Đề cập một cách khái quát đặc trưng này của hành pháp, C.Mác có lần đã lưu ý: “Hành chính là hoạt động có tính tổ chức”[8] và trong quá trình đó, hành pháp thể hiện một phương thức hành sự đặc thù, rất tiêu biểu - chỉ huy, ban hành những mệnh lệnh có tính điều hành, quản lý để mọi người chấp hành. 5 Trần Huy Liệu- Đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp theo hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam- Luận án Tiến sĩ Luật học, H, 2003, tr. Angghen, Tuyển tập, tập II, tr.
345, bản tiếng Nga.L- Tinh thần pháp luật, tr. 19 Với hoạt động lập pháp và hành pháp, Nhà nước ban hành và tổ chức thực hiện pháp luật để điều chỉnh ứng xử của các cá nhân, tổ chức, để buộc họ phải biết giới hạn hành vi của mình trong các khuôn khổ, trật tự do pháp luật xác lập (trật tự pháp luật). Tuy nhiên, pháp luật và trật tự pháp luật đó, do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, thường xuyên đứng trước khả năng, nguy cơ bị những cá nhân, tổ chức nhất định vi phạm, có khi là vi phạm rất nghiêm trọng, gây thiệt hại lớn cho những quan hệ xã hội mà Nhà nước phải bảo vệ. Lênin trong tác phẩm “Nhà nước và cách mạng”chỉ ra rằng, sẽ là không tưởng khi cho rằng pháp luật đương nhiên được tất cả mọi người tuân thủ; ngay cả trong xã hội cộng sản chủ nghĩa tương lai, khi không còn cơ sở xã hội cho sự tồn tại của pháp luật thì những quy tắc của trật tự công cộng vẫn có thể sẽ bị một số người nhất định vi phạm[9].
Chính nhu cầu, đòi hỏi Nhà nước phải trông coi, gìn giữ pháp luật khỏi sự xâm hại, nhu cầu khôi phục và duy trì trật tự pháp luật vì lợi ích sống còn và phát triển của Nhà nước, của xã hội, của từng người dân tạo thành một phương diện hoạt động thứ ba của quyền lực nhà nước - tư pháp với chức năng bảo vệ pháp luật. Đây là một nhu cầu, một đòi hỏi khách quan, tồn tại song song với nhu cầu, đòi hỏi Nhà nước phải làm ra pháp luật (lập pháp) và quản lý, điều hành xã hội bằng pháp luật (hành pháp).