CONG TRINH DU THI GIAI THUGNG “ SINH VIEN NGHIEN CUU KHOA HOC ” NAM 2010 PHÁT TRIEN TÍNH TRANH TUNG TRONG MO HINH TO TUNG DAN SU VIET NAM HIEN NAY TAC GIA: QUACH MANH QUYET LOP : DS31B KHOA : LUẬT DÂN SỰ THUỘC NHÓM NGÀNH: XH 2b Tôi xin gui những lời cam ơn chán thành nhất tới thạc sĩ Tran Phương Thảo giảng viên tô bộ môn luật TỔ Tụng Dán Sự đã nhiệt tình giúp đỡ để tôi có thê hoàn thành tốt công trình nghiên cứu của mình. — QUACH MẠNH QUYẾT MỤC LUC Trang GIỚI THIỆU CHUNG I.NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ MÔ HÌNH TỐ TỤNG DÂN SỰ 1. MÔ HÌNH VÀ MÔ HÌNH TO TUNG DÂN SỰ. PHAN LOẠI MÔ HÌNH TO TUNG DAN SỰ.
MÔ HINH TO TUNG DÂN SỰTRANH TỤNG. Lịch sử hình thành. À S2 v xnxx TH TH nh Hy ra lãi 2. Nội dung của mô hình tốtụng dân sự tranh tụng 2.
Nguyên tac Due proCeSS.- -- Ác nn nS Si rkg 12 2. Quyền tự định đoạt của đương sự là tôi cao. Phiên tòa mang tính tập trung, liên tục và bằng lời nói. Chỉ có một cấp xét xử theo đúng nghĩa, cấp phúc thẩm không xét xử lại toàn bộ nội dung vụ án.
Đánh giá chung về mô hình tố tụng dân sự tranh tụng. MO HINH TO TUNG DAN SU XET HOI (THẤM XÉT) 2. Lich sử hình tnamhinnn. Nội dung mô hình tố tụng xét hỏi 2.
Tham phán giữ vai trò quyết định trong quá trình tố tụng. Tính trung gian và thủ tục viết. Có hai cấp xét xử tách biệt nhau và đương sự tham gia MV. Đánh giá chung về mô hình tố tụng dân sự xét hỏi.
GIẢI PHAP CHO CA HAI MÔ HÌNH. NHẬN DIỆN MÔ HÌNH TỐ TỤNG DÂN SỰ CỦA VIỆT NAM. Duong sự phụ thuộc chặt chẽ vào thẩm phán. Về thực chất trong tố tụng dân sự Việt Nam hiện nay vẫn còn bóng dáng của giai đoạn diéu tra trước đây do thẩm phán tiến "—-ˆ.
Phiên toà thực chất chỉ là sự “nối dài” của quá trình “điều tra”, xác minh và không cần thiết phải có mặt tất cả các chủ thể tham gia tố tung TONG KET PHẦNI II. MOT SO GIẢI PHAP NHẰM PHAT TRIEN TÍNH TRANH TUNG TRONG MO HINH TO TUNG DAN SU VIET NAM HIEN NAY 1. CƠ SỞ CUA VIỆC PHAT TRIEN TÍNH TRANH TỤNG.- Úc c1 1S * St S TY TH TH ng ng kg ngà 53 1. CO SO phap LY.
MOT SO GIAI PHAP CU THE 2. Nâng cao nhận thức của các chủ thé tiến hành và tham gia tố tung. Khắc phục sự bất hợp tác. Những cải cách tại phiên tòa.
- - - Sàn HS yec 70 2. Giảm bớt sự phân hóa giữa các nhóm đương sự.---- -- 75 LỜI KẾT PHỤ LỤC DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO Trang | GIỚI THIỆU CHUNG 1. TINH CAP THIET CUA DE TÀI Luật tố tụng dan sự (TTDS) là một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật Việt Nam bao gồm các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành để điều chỉnh những quan hệ phát sinh trong quá trình giải quyết các vụ, việc về dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (sau đây gọi tắt là quan hệ dân sự). Trong tình hình hội nhập quốc tế một cách hết sức mạnh mẽ, tích cực cũng như sự phát triển không ngừng của các quan hệ dân sự trong nước, vai trò của luật TTDS ngày càng trở lên quan trọng.
Khi luật nội dung thừa nhận một cách trực tiếp hay gián tiếp quyền của các chủ thể trong quan hệ dân sự thì đồng thời phải trao cho họ một năng quyền đặc thù là quyền đi kiện (tố quyền) để bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình khi các quyền đó bị xâm phạm hay phủ nhận. Chính quyền đi kiện - đối tượng điều chỉnh của luật hình thức trở thành biện pháp bảo đảm cho các quan hệ thuộc đối tượng điều chỉnh của luật nội dung. Nói một cách khác, không một quan hệ dân sự nào có thể hình thành và phát triển nếu như không được luật TTDS ghi nhận và bảo vệ. Trong quan hệ pháp luật tố tụng dân sự, các chủ thể tham gia tố tụng sẽ có những quyền và nghĩa vụ mới hoàn toàn cách biệt với quyền và nghĩa vụ nguyên thuỷ được xác lập giữa các bên (đối tượng của tranh chấp).
Tổng hợp với quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tiến hành tố tụng sẽ hình thành nên một mô hình tố tụng dân sự xác định. Theo quan điểm của tác giả, các quốc gia trên thế giới xuất phát từ trình độ phát triển, những đặc điểm đặc thù về truyền thống pháp lý mà xây dựng cho mình một mô hình tố tụng không giống nhau, phục vụ cho những mục đích chính trị - xã hội nhất định. Nhưng dù có những đặc điểm không đồng nhất nhưng vẫn có thể xếp luật tố tụng dân sự của một quốc gia cụ thể vào một mô hình tố tụng với những yếu tố đặc trưng. Trang 2 Tại Việt Nam, thuật ngữ “mô hình tố tung” không còn quá xa lạ nhưng các nghiên cứu lại tập trung chủ yếu trong lĩnh vực tố tụng hình sự - nơi mà quyền lợi của nhà nước, của xã hội đối lập một cách trực tiếp với quyền lợi của cá nhân (cá thể hoá hình phat), cuộc chiến giữa “kể cai tri” và “kẻ bị cai trị” luôn là đề tài nóng bỏng, thu hút dư luận.
Mà ngược lại ít quan tâm đến mô hình tố tụng dân sự thể hiện ở việc các công trình nghiên cứu về vấn đề này rất khiêm tốn. Qua tìm hiểu, tác giả nhận thấy rằng từ trước đến nay chưa có một công trình nghiên cứu chính thức và quy mô về vấn đề này. Có chăng cũng chỉ là những nghiên cứu về các khía cạnh khác nhau của mô hình tố tụng dân sự. Trong những năm qua, đặc biệt là từ khi Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 có hiệu lực thì mô hình tố tụng dân sự của Việt Nam đã dần hình thành và có những cơ sở nhất định.
Vấn đề đặt ra là phải có những nghiên cứu khái quát một cách chung nhất về lý lận, nhận thức, đưa ra được những giải pháp cụ thể nhằm từng bước hoàn thiện mô hình tố tụng dân sự. Việc hoàn thiện phải có cơ sở khoa học từ những định hướng của Đảng và Nhà nước nói chung, đối với ngành tư pháp nói riêng và trình độ phát triển ngày càng cao của xã hội. Có như vậy mới đảm bảo phát huy được hết vai trò của ngành luật đặc thù và quan trọng này. Bên cạnh đó, trong buổi hội nghị tổng kết công tác ngành tòa án ngày 22 tháng | năm 2010, Tòa án nhân dân tối cao đã nhận định một trong những nhiệm vụ trọng tâm của ngành tòa án trong năm 2010 là hoàn thiện dự án Luật sửa đổi bổ sung của Bộ luật tố tụng dân sự 2004, tập hợp những vướng mắc để nghiên cứu, khắc phục.
Đây là một công việc lớn đòi hỏi sự vào cuộc một cách tích cực không chỉ của ngành tòa án mà còn của đông đảo những nhà nghiên cứu và áp dụng luật tố tụng dân sự để Bộ luật này ngày càng hoàn thiện hơn, thực tế hơn. Xuất phát từ việc nhận thức vai trò của luật tố tụng dân sự, về sự hạn chế trong các nghiên cứu chính thức, tính cấp thiết trong việc sửa đổi, bổ sung Trang 3 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004. Tác giả đã đi vào nghiên cứu công trình “Phat triển tính tranh tụng trong mô hình tố tụng dân sự Việt Nam hiện nay” với mục đích góp một phần công sức trong việc phát triển luật tố tụng dân sự Việt Nam. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Tình hình nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn về mô hình tố tụng dân sự tại Việt Nam nói chung còn tương đối thiếu vắng.
Đây là một trong những khó khăn lớn cho tác giả khi quyết định nghiên cứu vấn đề này bởi hệ thống tài liệu tham khảo rất han hẹp. Da có một số công trình nghiên cứu, bài viết dé cập đến những khía cạnh khác nhau liên quan đến ind hình tố tụng dân sự như “Tranh tụng tại phiên toà sơ thẩm dân sự một số vấn đề lý luận và thực tiễn ” - Nguyễn Thi Thu Hà, Luận văn thạc sĩ luật hoc năm 2002, “Tranh tung trong tố tung dân sự - một số vấn đề lý luận cơ ban” của Thạc sĩ Nguyễn Thi Thu Hà, khoa luật dân sự, trường đại học Luật Hà Nội (www.com), “Vai frò của thẩm phán đối với việc mở rộng tranh tụng trong các vụ án dan sự” của tác gia Tưởng Duy Lượng và Nguyễn Văn Cường - Toà dân sự, Toà án nhân dân tối cao.vn), “Ban chất của tranh tụng tại phiên toa” của PGS-TS Trần Văn Độ - Toa án quân sự trung ương (lawsoft. Mặc dù đây là những nghiên cứu ở những khía cạnh khác nhau về mô hình tố tụng nhưng là nguồn tham khảo quan trọng để tác giả có thể hoàn thành tốt nhất công trình nghiên cứu của mình, tránh được những tư tưởng chủ quan, phiến diện. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU Mô hình tố tụng dân sự là một vấn đề khó và rộng trong lĩnh vực luật tố tụng dân sự, khi nghiên cứu đòi hỏi phải có một kỹ năng chuyên sâu.
Chính vì vậy, trong phạm vi hạn chế của một sinh viên, tác giả không có tham vọng giải Trang 4 quyết một cách triệt để, toàn diện tất cả những vấn đề liên quan mà chỉ mong muốn làm rõ được những vấn đề cơ bản nhất, quan trọng nhất. Vì vậy tác giả đã quyết định giải quyết hai vấn đề chính: Vấn đề thứ nhất là những lý luận cơ bản về mô hình tố tụng dân sự với mục đích đưa ra được những nhận thức cơ bản về mô hình tố tụng dân sự, phân loại mô hình tố tụng dân sự thông qua việc dẫn chiếu những quy định về luật tố tụng dân sự trong hai hệ thống pháp luật của Mỹ và Pháp, chỉ rõ những đặc điểm nổi bật nhất của mô hình tố tụng tranh tụng và mô hình tố tụng dân sự xét hỏi (thẩm xét). Từ những đặc điểm nổi bật này có thể đánh giá được những ưu, nhược điểm của hai mô hình tố tụng dân sự. Thông qua những đặc điểm đặc trưng của tố tụng xét hỏi và tố tụng tranh tụng, tác giả nhận diện mô hình tố tụng dân sự của Việt Nam hiện nay mang nặng tính xét hỏi với những luận cứ về lý luận và thực tiễn.