Chương 1 1. Nghiên cứu những vấn đề lý luận về nguồn quy định tội phạm của pháp luật hình sự Việt Nam, chúng ta có thé hiểu khái niệm nguồn quy định tội phạm của pháp luật hình sự Việt Nam là các văn bản quy phạm pháp luật chứa đựng các quy phạm pháp luật hình sự mô tả về hành vi bị coi là tội phạm và đặt tội danh cho hành vi đó, là căn cứ mà chủ thé có thẩm quyền có thé dựa vào đó dé định tội danh và quyết định hình phạt. Từ khái niệm trên, chúng ta rút ra được những đặc điểm nguồn quy định tội phạm của pháp luật hình sự Việt Nam bao gồm: Một là, nguồn quy định tội phạm của pháp luật hình sự Việt Nam là vawen bản quy phạm pháp luật. Hai là, văn bản quy phạm pháp luật là nguồn quy định tội phạm của pháp luật hình sự Việt Nam phải chứa đựng các quy phạm pháp luật hình sự.
Ba là, các quy phạm pháp luật hình sự được chứa dung trong các van ban quy phạm pháp luật là nguồn quy định tội phạm của pháp luật hình sự Việt Nam mô tả về hành vi bị coi là tội phạm va đặt tội danh cho hành vi đó. Nguồn quy định tội phạm của pháp luật hình sự Việt Nam néu được mở rộng, không chỉ bó hẹp trong BLHS thì sẽ có rất nhiều ưu điểm: Bảo đảm được tính toàn diện, phù hợp của ngành luật hình sự; bảo đảm được tính ôn định của BLHS; bảo đảm được tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật; bảo đảm được tiêu chí về ngôn ngữ và kỹ thuật lập pháp. Những ưu điểm này chính là cơ sở lý luận cho sự cần thiết mở rộng phạm vi nguồn quy định tội phạm của pháp luật hình sự Việt Nam. Việc nghiên cứu nguồn và mở rộng nguồn quy định tội phạm của pháp luật hình sự có ý nghĩa rất quan trọng đối với hoạt động lập pháp cũng như hoạt động áp dụng pháp luật.
Chính vi vậy, cân có các công trình nghiên cứu di sâu vào 22 giải quyết các vẫn đề về nguồn và mở rộng nguồn quy định tội phạm, từ đó đi đến được những kết luận có giá trị nhằm phục vụ cho công tác lập pháp và áp dụng pháp luật trên thực tiễn. CƠ SỞ THỰC TIỀN CHO VIỆC MỞ RỘNG PHẠM VI NGUON QUY ĐỊNH TOI PHAM CUA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 2. Cơ sở nền tảng Ở Việt Nam hay bất kỳ quốc gia nào, hành vi nguy hiểm cho xã hội mới luôn phát sinh và cần sự điều chỉnh của pháp luật hình sự. Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã nêu rõ nhiệm vụ của công cuộc cải cách tư pháp là sớm hoàn thiện hệ thong pháp luật liên quan đến lĩnh vực tư pháp phù hợp mục tiêu chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, coi trọng việc hoàn thiện chính sách hình sự, và phải quy định tội phạm đối với những hành vi nguy hiểm cho xã hội mới xuất hiện trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, khoa học công nghệ và hội nhập quốc tế.
Thực tiễn 30 năm đổi mới ở Việt Nam, nên kinh tế liên tục đạt được tốc độ tăng trưởng cao, phát triển ôn định; tỷ lệ đói nghèo giảm mạnh, bền vững và ấn tượng, đời sống vật chất và tinh thần của người dân được nâng cao. Đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội và tình trạng kém phát triển, trở thành nước có thu nhập trung bình. Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đang tiếp tục được hoàn thiện. Vai trò, hiệu quả, sức cạnh tranh của các chủ thể kinh tế, các loại hình doanh nghiệp trong nên kinh tế được nâng lên.
Môi trường đầu tư và kinh doanh được cải thiện, bình đắng và thông thoáng hơn. Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 -2020 đã tổng kết tình hình đất nước trong 10 năm phát triển kinh tế - xã hội 2001 — 2010, theo đó thé chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tiếp tục được xây dựng và hoàn thiện, các lĩnh vực văn hóa xã hội đạt thành tựu quan trọng trên nhiều mặt, tuy nhiên, những thành tựu đạt được chưa tương xứng với tiềm năng, các lĩnh vực văn hóa, xã hội có một số mặt yếu kém chậm được khắc phục, nhất là về giáo dục, đào tạo và y tế; đạo đức, lôi sông trong một bộ phận xã hội xuông câp. Môi trường nhiêu nơi đang bị ô 24 nhiễm nang; tài nguyên, đất đai chưa được quản lý tốt, khai thác va sử dụng kém hiệu quả, chính sách đất đai có mặt chưa phù hợp.Những hạn chế, yếu kém trên đây có phần do nguyên nhân khách quan, trong đó có những vấn đề mới chưa có tiền lệ trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chủ yếu do nguyên nhân chủ quan. Nền kinh tế phát triển, giá tri vật chất được đề cao hơn giá tri tinh than, loi ích cá nhân được coi trong hon lợi ích của xã hội, con người bi ảnh hưởng nhiều hơn của những giá trị có tính chất thực dụng, đồng thời các giá trị văn hóa đang bị ảnh hưởng và lu mờ dan, nhân cách con người thay đổi chủ yếu theo hướng xấu.
Khi xã hội đề cao giá trị đồng tiền, đồng thời quan hệ xã hội trong các lĩnh vực phát triển, biến đổi nhanh chóng dẫn đến trong thực tiễn phát sinh nhiều hành vi nguy hiểm mới cho xã hội cần bị xử lý về hình sự, nhất là trong những lĩnh vực nhiều biến động như đất đai, tài chính kế toán, môi trường. Bên cạnh đó, qua trình hội nhập quốc tế cũng đặt ra những yêu cầu nhất định đối với chống và phòng ngừa tội phạm. Theo Nghị quyết số 48-NQ/CP về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 có nội dung về xây dựng và hoàn thiện pháp luật về hội nhập quốc tế như sau: “Tiếp tục ký kết, gia nhập các điều ước quốc tế trong các lĩnh vực kinh tế, thương mại, dau tư, tin dụng quốc tế, sở hữu trí tuệ, thué quan, bảo vệ môi trường.Đông thời, day mạnh việc rà soát, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới các văn bản quy phạm pháp luật để phù hợp với thông lệ quốc tế và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Uu tiên xây dựng các văn bản pháp luật và các thiết chế bảo vệ nên kinh tế độc lập tự chủ trong qua trình hội nhập kinh té quoc té; khan trương rà soát, hoàn thiện pháp luật theo yêu cau gia nhập WTO; thực hiện các cam kết với ASEAN tham gia đây đủ vào AFTA năm 2006, tiến tới cộng đồng kinh tế châu A vào năm 2020.
25 Ký kết và gia nhập các công ước quốc tế về chống khủng bô quốc tế, chong tội phạm có tô chức xuyên quốc gia, chống rửa tiên, chong tham những, các hiệp định tương trợ tư pháp. Chi trọng việc nội luật hoá những điều ước quốc tế mà Nhà nước ta là thành viên liên quan đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Sớm ban hành Luật dan độ tội phạm và chuyển giao người bị kết an phat tw’. Hội nhập quốc tế là xu hướng chung của thời dai.
Xu thé chủ động hội nhập quốc tế đã trở thành nhu cầu nội tại của Việt Nam. Trên thực tế, Việt Nam đã tham gia nhiều tổ chức quốc tế, t6 chức khu vực và đã trở thành thành viên của nhiều điều ước quốc tế đa phương, trong đó có các công ước về phòng chống tội phạm, như: các Công ước của Liên hợp quốc về phòng, chống ma tuý; Công ước chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia và Nghị định thư về phòng, chống buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ bổ sung cho Công ước; Công ước chống tham nhũng; các điêu ước quôc tê liên quan đên chông khủng bô, tài trợ khủng bô, rửa Trong quá trình hội nhập quốc tế, Việt Nam tham gia, ký kết các điều ước quốc tế và nội luật hóa thành các quy định trong hệ thống pháp luật quốc gia nhằm thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của quốc gia thành viên, tạo cơ sở pháp lý thuận lợi cho việc chủ động và tăng cường hợp tác quốc tế trong phòng, chống tội phạm. Đồng thời nguồn quy định tội phạm của nước ta phải phù hợp với thông lệ chung về nguồn luật ở các quốc gia khác trên thé giới về cả hình thức và nội dung. Đề bảo đảm tính toàn diện và phù hợp của ngành luật hình sự nói riêng và hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung, yêu cầu đặt ra đòi hỏi các quy phạm pháp luật hình sự phải nhanh chóng được sửa đổi, bố sung nhằm đáp ứng kịp thời cho công tác dau tranh phòng chống tội phạm.
Dé bảo đảm ở mức cao nhất có thé về tinh toàn diện, tính phù hợp của ngành luật hình sự trong khi vẫn bảo đảm được tính ổn 26 định của BLHS, đòi hỏi nguồn quy định tội phạm của pháp luật hình sự Việt Nam cũng phải đa dạng, không thể bó hẹp trong BLHS. Thêm vào đó, xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất là một trong những mục tiêu được dé ra trong Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020. Hệ thống pháp luật hiện hành đang ngày càng thay đối và hướng đến sự hoàn thiện. Những năm gan đây nhiều văn bản Luật chuyên ngành mới ra đời nhằm dé điều chỉnh một cách có hệ thống và chuyên sâu các quan hệ xã hội liên quan.
Như vậy, nguồn quy định về tội phạm cũng cần phải thay đôi dé bảo đảm sự thống nhất với các quy phạm pháp luật chuyên ngành. Quá trình phát triển đổi mới toàn diện đất nước đã tạo ra những tiền đề cần thiết để Việt Nam tiếp tục khăng định mình trên trường quốc tế. Đặc biệt, cơ sở pháp luật của toàn bộ đời sống xã hội đã được nhà nước ta xác định có sự thay đôi toàn diện dẫn đến sự ra đời của Hiến pháp mới — Hién pháp 2013. Hiến pháp 2013 được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 6, gồm 11 chương, 120 điều có hiệu lực từ ngày 01/01/2014.