chương 1), trong đó có nghiên cứu hoạt động tranh tụng của luật sư trong mô hình tố tụng tranh tụng; mô hình tố tụng thẩm vấn. Khi nghiên cứu về vai trò của Luật sư trong hoạt động tranh tụng ở Việt Nam, các tác giả cho rằng: Sự thật khách quan của vụ án phụ thuộc nhiều 15 vào hoạt động tranh tụng của luật sư và Kiểm sát viên; việc phát huy vai trò của luật sư trong hoạt động tranh tụng không cần thiết gắn với việc chuyển đổi mô hình tố tụng nước ta mà vấn đề là cần đưa các hạt nhân hợp lý của mô hình tố tụng tranh tụng để luật sư có thể phát huy vai trò của mình. Bàn về quá trình tranh tụng, các tác giả cho rằng, quá trình diễn ra hoạt động tranh tụng được bắt đầu tư khi khai mạc phiên tòa và kết thúc sau khi Tòa án công bố phán quyết; hoạt động tranh tụng của luật sư được diễn ra theo bốn giai đoạn: Giai đoạn chuẩn bị tranh tụng gắn với các thủ tục bắt đầu phiên tòa; giai đoạn thứ hai là luật sư tham gia vào quá trình xét hỏi tại phiên tòa; giai đoạn thứ ba - tranh tụng giữa các bên; giai đoạn thứ tư là công bố kết quả tranh tụng - công bố phán quyết. Về vai trò của luật sư trong hoạt động tranh tụng, các tác giả trình bày thực trạng pháp luật và thực trạng về thực hiện pháp luật bảo đảm vai trò của luật sư qua các thời kỳ.
Bên cạnh việc khẳng định đã có đổi mới trong quy định về luật sư trong tranh tụng, nhưng vẫn còn những hạn chế như việc chưa có quy định pháp lý bảo đảm cho luật sư tham gia tranh tụng một cách khách quan và độc lập; quy định của pháp luật chưa được thực hiện một cách nghiêm túc, việc phát huy vai trò của luật sư chưa được đảm bảo và cũng khẳng định chất lượng tham gia tranh tụng của luật sư chưa đáp ứng được mục đích, vai trò của luật sư. Xuất phát từ các nguyên nhân khách quan là cơ chế kinh tế quan liêu bao cấp và từ chính mô hình tố tụng thẩm vấn dẫn đến hệ quả là vấn đề tranh tụng trong các phiên xét xử và đội ngũ cũng như địa vị của luật sư chưa được coi trọng. Về các nguyên nhân chủ quan, các tác giả nhận thấy, bên cạnh hạn chế của pháp luật, kiến thức kỹ năng tranh tụng của luật sư, nhận thức của nhân dân còn thấp, cơ chế nâng cao trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng chưa có, bên cạnh đó còn có nguyên nhân từ đạo đức nghề nghiệp luật sư chưa được đảm bảo khi mục đích tham gia tranh tụng là yếu tố kinh tế mà không xuất phát từ chính vai trò của luật sư trong tranh tụng. Tác giả khẳng định phát huy vai trò của luật sư trong hoạt động tranh tụng nhằm đảm bảo yêu cầu của việc thực hiện cơ chế dân chủ xã hội chủ nghĩa, phải luôn gắn liền với nhiệm vụ cải cách tư pháp được nhận thức theo hướng tăng 16 cường yếu tố tranh tụng trong mô hình tố tụng thẩm vấn ở Việt Nam để từ đó đưa ra các giải pháp: Nâng cao nhận thức về vai trò của luật sư; hoàn thiện pháp luật theo hướng sửa đổi một số quy định liên quan đến luật sư trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, quy định bắt buộc luật sư tham gia tất cả các phiên tòa hình sự, dân sự, kinh tế, hành chính, lao động; các giải pháp liên quan đến tổ chức hành nghề luật sư.
Trình bày kinh nghiệm quốc tế trong chương 3, các tác giả nêu cao nội dung liên quan đến luật sư ở Mỹ, Vương quốc Anh và Trung Quốc, có điểm qua về một vài nét tương đồng hoặc khác biệt giữa luật sư ở các nước nêu trên với luật sư ở Việt Nam. Trong kết luận, các tác giả khẳng định "Luật sư và vấn đề tranh tụng được đặt ra trong thực tiễn hoạt động tố tụng hiện nay đòi hỏi phải có sự nghiên cứu một cách thấu đáo để có được cái nhìn toàn diện về tranh tụng trong tố tụng hiện nay và vai trò của luật sư trong tranh tụng". "Tăng cường hoạt động tranh tụng phải gắn liền với việc phát huy vai trò của luật sư trong tranh tụng" [46, tr. - Lê Hữu Thể, "Thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra" [95].
Trong cuốn sách này, tác giả tập trung nghiên cứu những vấn đề như: + Những vấn đề lý luận về quyền công tố và THQCT; + Hoạt động tư pháp và kiểm sát các hoạt động tư pháp ở giai đoạn điều tra các vụ án hình sự; + Các quy định pháp luật về vai trò của Viện kiểm sát trong hoạt động THQCT và kiểm sát tư pháp ở giai đoạn điều tra; + Tác giả đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động THQCT và kiểm sát các hoạt động tư pháp ở giai đoạn điều tra; + Khái quát về cơ quan công tố của một số nước trên thế giới. Có thể nói, đây là cuốn sách nghiên cứu một cách cơ bản, hệ thống những vấn đề về THQCT và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự. Tác giả đã nêu ra được các quan niệm khác nhau về quyền công tố và THQCT. Trên cơ sở đó, tác giả đã đưa ra quan điểm của riêng mình về vấn 17 đề này.
Đặc biệt, tác giả đã đưa ra được 7 nhóm giải pháp nhằm nâng cao chất lượng THQCT và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra: Đổi mới công tác cán bộ; quán triệt đầy đủ tư tưởng, quan điểm của Đảng trong quá trình THQCT và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự; nắm vững và thực hiện đúng, đầy đủ vai trò, nhiệm vụ, chức năng của ngành; chú trọng việc giáo dục nâng cao ý thức trách nhiệm, phẩm chất đạo đức, nâng cao trình độ về chính trị, chuyên môn nghiệp vụ của Kiểm sát viên; tăng cường vai trò lãnh đạo của viện trưởng các cấp, kết hợp với tăng cường trách nhiệm và quyền hạn của Kiểm sát viên; xây dựng mối quan hệ phối hợp giữa các đơn vị trong mỗi cấp kiểm sát và với các cơ quan, tổ chức và công dân; tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị. - Dương Thanh Biểu, "Tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm" [2]. Tác giả đã tập trung nghiên cứu những vấn đề sau: Khái niệm, bản chất tranh luận tại phiên tòa; quan điểm của Đảng về tranh luận trong tố tụng hình sự; các quy định của pháp luật về tranh luận và trách nhiệm THQCT của Kiểm sát viên tại các phiên tòa sơ thẩm; kỹ năng chuẩn bị THQCT tại phiên tòa sơ thẩm gồm: nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm; nguyên tắc ủy quyền THQCT; kỹ năng nghiên cứu hồ sơ chuẩn bị THQCT gồm: Phương pháp nghiên cứu hồ sơ vụ án; kỹ năng nghiên cứu các thủ tục tố tụng; kỹ năng xây dựng các văn bản pháp luật; kỹ năng xây dựng bản luận tội; kỹ năng xây dựng đề cương xét hỏi, kế hoạch đối đáp; kỹ năng THQCT tại phiên tòa hình sự sơ thẩm, gồm: Kỹ năng đọc cáo trạng; kỹ năng xét hỏi của Kiểm sát viên tại phiên tòa; kỹ năng tranh luận tại phiên tòa của Kiểm sát viên; kỹ năng đối đáp của Kiểm sát viên. Đặc biệt, tác giả đã tập hợp được một số vụ án đã xét xử trong thời gian qua và chỉ ra được những ưu điểm cũng như tồn tại, hạn chế của Kiểm sát viên trong quá trình THQCT như: viết cáo trạng, xây dựng bản luận tội, xây dựng đề cương xét hỏi, kỹ năng xét hỏi, kỹ năng tranh luận và kỹ năng đối đáp.
Có thể khẳng định đây là cuốn sách có ý nghĩa thực tiễn rất lớn, cần được phổ biến rộng rãi trong đội ngũ Kiểm sát viên nói riêng và cán bộ ngành kiểm sát nói chung. 18 - Dương Thanh Biểu "Tranh luận tại phiên tòa phúc thẩm" [3]. Tác giả đã tập trung nghiên cứu các vấn đề sau: Xét xử phúc thẩm và vị trí, vai trò của VKSND trong giai đoạn xét xử phúc thẩm: Khái niệm, bản chất pháp lý của THQCT và kiểm sát xét xử phúc thẩm; tính chất của giai đoạn xét xử phúc thẩm; vị trí, nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND trong giai đoạn xét xử phúc thẩm; quan điểm của một số nước trên thế giới về xét xử phúc thẩm; kỹ năng nghiên cứu hồ sơ chuẩn bị tham gia phiên tòa phúc thẩm: Phân loại hồ sơ vụ án; kỹ năng nghiên cứu kháng cáo, kháng nghị; kỹ năng nghiên cứu bản án sơ thẩm, biên bản phiên tòa và biên bản nghị án; kỹ năng nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án; kỹ năng nghiên cứu dư luận báo chí; kỹ năng nghiên cứu quan điểm của luật sư và việc bào chữa của bị cáo, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tới vụ án; kỹ năng xác minh ở cấp phúc thẩm; kỹ năng nghiên cứu các quy định của pháp luật; kỹ năng tổng hợp báo cáo án phúc thẩm; kỹ năng chuẩn bị đề cương xét hỏi và dự kiến những tình huống đối đáp; THQCT và kiểm sát xét xử tại phiên tòa phúc thẩm: Kỹ năng xét hỏi tại phiên tòa phúc thẩm; kỹ năng tranh luận tại phiên tòa phúc thẩm; kỹ năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong xét xử phúc thẩm. Đặc biệt, tác giả đã tập hợp được một số vụ án đã xét xử trong thời gian qua và chỉ ra được những ưu điểm cũng như tồn tại, hạn chế của Kiểm sát viên trong quá trình THQCT.
- Đỗ Thị Ngọc Tuyết, "Kỹ năng tranh tụng của Kiểm sát viên tại phiên tòa hình sự" [107]. Tại chương 1: Một số vấn đề chung về tranh tụng tại phiên tòa hình sự, trong phần khái niệm tranh tụng tại phiên tòa, sau khi nêu ra các quan điểm khác nhau về thế nào là tranh tụng, tác giả đồng nhất với quan điểm không cần thiết phải quy định tranh tụng là một nguyên tắc của tố tụng hình sự, mà "Tranh tụng thực chất là tranh luận trong tố tụng", và để thực hiện tinh thần Nghị quyết 08- NQ/TW ngày 02/1/2002 của Bộ Chính trị thì "Tranh tụng có thể được hiểu là nâng cao chất lượng tranh luận tại phiên tòa xét xử vụ án hình sự, coi trọng hoạt động tranh luận tại phiên tòa, lấy kết quả tranh luận và kết quả xét hỏi để Tòa án 19 ra bản án và quyết định" [39].