Mở đầu: Giới thiệu lý do tác giả chọn đề tài này, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu được sử dụng và ý nghĩa của đề tài cũng như kết cấu của đề tài. Cơ sở lý thuyết về chiêu thị: Trình bày lý thuyết nền, các khái niệm về chiêu thị, vai trò của chiêu thị cũng như giới thiệu về một số nghiên cứu về hoạt động chiêu thị trên thế giới. Thực trạng hoạt động chiêu thị tại công ty cổ phần Domenal: Giới thiệu về công ty cổ phần Domenal, phân tích thực trạng hoạt động chiêu thị tại công ty cổ phần Domenal, tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến những tồn tại trong hoạt động chiêu thị tại công ty. Giải pháp hoàn thiện hoạt động chiêu thị tại công ty cổ phần LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Domenal: Dựa trên kết quả phân tích của thực trạng hoạt động chiêu thị tại công ty cổ phần Domenal, tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động chiêu thị tại công ty.
Kết luận: Tóm lược lại kết quả đề tài, trình bày những kết quả đạt được, những hạn chế của đề tài cũng như đề ra hướng nghiên cứu tiếp theo. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HOẠT ĐỘNG CHIÊU THỊ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Khái niệm về chiêu thị Theo David Novak (2011) cho rằng chiêu thị là một yếu tố của quy trình truyền thông marketing, là sự trao đổi liên tục, tức thời các thông tin giữa doanh nghiệp với môi trường xung quanh. Chiêu thị là quá trình giao tiếp giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng nhằm tạo ra thái độ tích cực về các sản phẩm và dịch vụ, từ đó khuyến khích họ trong mua sản phẩm.
Truyền thông có thể là đại chúng và cá nhân, cá nhân và cá nhân, theo đó các hoạt động chiêu thị liên quan đến quá trình giao tiếp với một số đối tượng nhất định. Doanh nghiệp muốn tiếp xúc với những khách hàng hiện tại và khách hàng tiềm năng, những người bán và cung cấp sản phẩm và dịch vụ của doanh nghiệp, với các nhà phân phối, nhân viên, bạn bè, người thân, nhân viên, nhà cung cấp, đối tác kinh doanh, tổ chức xã hội, văn hóa, thể thao, với công chúng nói chung. Theo Vazeerjan Begum (2015) định nghĩa chiêu thị là thành phần quan trọng và cần thiết của hoạt động marketing. Chiêu thị giúp truyền thông tin quan trọng về sản phẩm đến thị trường mục tiêu thông qua những kênh truyền thông thích hợp, là khái niệm cơ bản để phân biệt sản phẩm của một doanh nghiệp với các đối thủ hiện có trên thị trường.
Todorova (2017), chiêu thị là một trong những công cụ tốt nhất để thu hút khách hàng mới và giữ chân khách hàng cũ, chiêu thị giúp tăng giá trị sản phẩm trong một khoảng thời gian giới hạn nhằm kích thích việc mua hàng và tăng hiệu quả của các kênh trung gian. Như vậy, chiêu thị là thành phần quan trọng và cần thiết của hoạt động marketing trong việc nỗ lực xây dựng những mối quan hệ với khách hàng, là tập hợp các biện pháp và nghệ thuật với mục đích thông tin cho khách hàng hiện có và những khách hàng tiềm năng biết về sản phẩm, dịch vụ hiện có hoặc sản phẩm, dịch vụ trong tương lai của doanh nghiệp, đồng thời thu hút họ tiêu dùng sản phẩm của doanh nghiệp. Khái niệm về hoạt động chiêu thị Kureshi Sonal and Vyas Preeta (2002) cho rằng các hình thức ưu đãi như giảm giá hoặc gia tăng thêm các giá trị cho sản phẩm trong một thời gian ngắn để LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 thu hút giao dịch hoặc tiêu dùng được xem là các hoạt động chiêu thị. Theo David Novak (2011), hoạt động chiêu thị có nghĩa là sự kết hợp của các hoạt động marketing khác nhau mà một doanh nghiệp tương tác với các cá nhân, nhóm hoặc công chúng dưới dạng thông điệp cá nhân và cá nhân nhằm đáp ứng các lợi ích và nhu cầu lẫn nhau.
Nese Acar và các cộng sự (2012) cho rằng chiêu thị là các hoạt động nhằm thông báo đến thị trường mục tiêu, hướng dẫn người tiêu dùng, tạo ra nhu cầu cho khách hàng tiềm năng, thiết lập mối quan hệ tốt với các trung gian, tạo và duy trì uy tín của doanh nghiệp trên thị trường từ đó tăng được doanh thu. Sandra Cuellar (2013) định nghĩa hoạt động chiêu thị là những hoạt động mà một công ty sử dụng để thông tin đến khách hàng hiện tại hoặc tiềm năng về sản phẩm hoặc dịch vụ của mình. Những hoạt động chiêu thị có thể hướng đến người tiêu dùng cuối cùng, đến một trung gian như nhà bán lẻ, nhà bán buôn hoặc nhà phân phối hoặc cả hai. Chiêu thị là nền tảng cho sự thành công của doanh nghiệp bởi vì nếu không có chiêu thị thì khách hàng tiềm năng sẽ không biết về sự tồn tại và lợi ích của sản phẩm hoặc dịch vụ của doanh nghiệp.
Thậm chí sản phẩm hoặc dịch vụ tốt nhất sẽ không bán được nếu không có một số hoạt động chiêu thị nhất định. Todorova (2017), hoạt động chiêu thị là các hoạt động marketing nhằm tăng giá trị sản phẩm trong một khoảng thời gian giới hạn nhằm kích thích việc mua hàng và tăng hiệu quả của các kênh trung gian. Như vậy, hoạt động chiêu thị là hoạt động marketing nhằm nỗ lực xây dựng những mối quan hệ với khách hàng, là tập hợp các hoạt động với mục đích thông tin cho khách hàng hiện có và những khách hàng tiềm năng biết về sản phẩm, dịch vụ hiện có hoặc sản phẩm, dịch vụ trong tương lai của doanh nghiệp, đồng thời thu hút họ tiêu dùng sản phẩm của doanh nghiệp. Các thành phần của hoạt động chiêu thị 1.
Mô hình hoạt động chiêu thị của David Novak và cộng sự (2011) David Novak và cộng sự (2011) cho rằng hoạt động chiêu thị bao gồm 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 thành phần như hình 1. Các thành phần đó là Quảng cáo (Advertising), khuyến mại (Sales promotion), bán hàng cá nhân (Personal selling), tạo dư luận (Publicity) và tuyên truyền (Economic Propaganda).1: Mô hình của David Novak và cộng sự (Nguồn: David Novak và cộng sự, 2011) 1. Mô hình hoạt động chiêu thị của Nese Acar và các cộng sự (2012) Theo Nese Acar và các cộng sự (2012), hoạt động chiêu thị có 5 thành phần như hình 1. Các thành phần của hoạt động chiêu thị bao gồm: Quảng cáo (Advertising), quan hệ công chúng (Public Relations), bán hàng cá nhân (Personal selling), khuyến mại (Sales promotion) và tiếp thị trực tiếp (Direct Marketing).
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2: Mô hình của Nese Acar và các cộng sự (Nguồn: Nese Acar và các cộng sự, 2012) 1. Mô hình hoạt động chiêu thị của Sandra Cuellar-Healey (2013) Sandra Cuellar-Healey (2013) cho rằng hoạt động chiêu thị bao gồm: Quảng cáo (Advertising), bán hàng cá nhân (Personal selling), quan hệ công chúng và tạo dư luận (Public Relations and Publicity), khuyến mại (Sales promotion), tiếp thị trực tiếp (Direct Marketing) và các hoạt động chiêu thị khác (Other Promotional Options) như hình 1.3: Mô hình hoạt động chiêu thị của Sandra Cuellar-Healey (Nguồn: Sandra Cuellar-Healey, 2013) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Mô hình hoạt động chiêu thị của Đinh Thị Thúy Lan (2013) Theo Đinh Thị Thúy Lan (2013), hoạt động chiêu thị bao gồm: Quảng cáo, quan hệ công chúng, bán hàng cá nhân, khuyến mại và tiếp thị trực tiếp như hình 1.4: Mô hình hoạt động chiêu thị của Đinh Thị Thúy Lan (Nguồn: Đinh Thị Thúy Lan, 2013) 1. Mô hình hoạt động chiêu thị của Ngô Anh Tuấn (2015) Theo Ngô Anh Tuấn (2015), hoạt động chiêu thị bao gồm: Quảng cáo, quan hệ công chúng, bán hàng cá nhân, khuyến mại và tiếp thị trực tiếp như hình 1.5: Mô hình hoạt động chiêu thị của Ngô Anh Tuấn (Nguồn: Ngô Anh Tuấn, 2015) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Mô hình hoạt động chiêu thị của Đào Khắc Anh Việt (2017) Theo Đào Khắc Anh Việt (2017), hoạt động chiêu thị bao gồm: Quảng cáo, quan hệ công chúng, bán hàng cá nhân, khuyến mại và tiếp thị trực tiếp.6: Mô hình hoạt động chiêu thị của Đào Khắc Anh Việt (Nguồn: Đào Khắc Anh Việt, 2017) 1. Các thành phần của hoạt động chiêu thị và thang đo đề xuất Phần lớn các nghiên cứu được nêu ở mục 1.3 và các nghiên cứu khác đều cho rằng hoạt động chiêu thị bao gồm 5 thành phần là quảng cáo, khuyến mại, quan hệ công chúng, bán hàng cá nhân và tiếp thị trực tiếp đồng thời qua quá trình tìm hiểu tác giả nhận thấy các hoạt động chiêu thị tại Công ty Cổ phần Domenal chủ yếu cũng là các hoạt động này nên tác giả đề xuất đây là các thành phần của hoạt động chiêu thị tại Công ty cổ phần Domenal.7: Mô hình hoạt động chiêu thị ứng dụng cho Domenal (Nguồn: Tác giả đề xuất) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Khái niệm quảng cáo David Novak (2011) cho rằng quảng cáo (tuyên truyền kinh tế) là một hình thức quảng bá, là cách mà doanh nghiệp thực hiện truyền thông đại chúng. Một doanh nghiệp sẽ tài trợ cho việc chuyển thông tin về bản thân doanh nghiêp thông qua nhiều kênh hay phương tiện truyền thông như: Báo, tạp chí, đài phát thanh,.
đến đại chúng. Quảng cáo là một hình thức thúc đẩy quá trình giao tiếp sáng tạo, phù hợp với lợi ích và nhu cầu của toàn bộ người tiêu dùng, nhà sản xuất và xã hội. Đó là một cách truyền thông đại chúng nhằm truyền đạt thông tin, phát triển xu hướng kích động hành động có lợi cho các sản phẩm và doanh nghiệp thực hiện quảng cáo. Quảng cáo là để thông báo về các sản phẩm mới, gợi ý cách sử dụng sản phẩm mới, thông báo về việc thay đổi giá sản phẩm và giải thích cách sử dụng của sản phẩm.
‘Theo Sandra Cuellar (2013), quảng cáo là yếu tố được biết đến rộng rãi nhất và là một phương pháp hiệu quả để tiếp cận với lượng lớn khách hàng. Doanh nghiệp có thể sử dụng quảng cáo để tạo nhận thức về sản phẩm hoặc dịch vụ mới, mô tả tính năng của sản phẩm, cách thức sử dụng, phân biệt sản phẩm của doanh nghiệp với các đối thủ cạnh tranh, khuyến khích khách hàng mua sản phẩm, tạo hoặc nâng cao hình ảnh thương hiệu. Vì doanh nghiệp phải trả tiền cho hoạt động quảng cáo nên doanh nghiệp có một số quyền kiểm soát đối với thông điệp mà họ muốn truyền tải, đối tượng mà hoạt doanh nghiệp muốn gởi thông điệp quảng cáo và khi nào, trong bao lâu hoạt động này được thực hiện.