LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Hội nhập kinh tế đã trở thành xu hướng tất yếu của tất cả các quốc gia trên thế giới. Cùng với quá trình này, các quốc gia ngày càng phụ thuộc và chịu ảnh hưởng lẫn nhau trên tất cả các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội,…Việt Nam cũng không nằm ngoài xu hướng đó. Nền kinh tế Việt Nam đang hội nhập ngày càng sâu hơn, rộng hơn vào kinh tế thế giới và khu vực, từ những năm cuối của thế kỷ XX, Việt Nam đã có những bước tiến quan trọng trong hội nhập kinh tế thương mại.
Năm 1995, Việt Nam gia nhập ASEAN; gia nhập APEC vào năm 1997 và một sự kiện quan trọng đánh dấu một bước tiến lớn trong quá trình hội nhập kinh tế của Việt Nam chính là sự kiện Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại thế giới WTO vào ngày 07/11/2006. Quá trình hội nhập đã và đang đem lại nhiều cơ hội cũng như không ít thách thức cho nền kinh tế Việt Nam nói chung cũng như các doanh nghiệp nói riêng. Trong những năm gần đây, nền kinh tế thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng gặp phải rất nhiều khó khăn: Kinh tế tăng trưởng chậm, thất nghiệp tăng, sức mua hạn chế, giá cả nguyên vật liệu đầu vào biến động và có xu hướng tăng mạnh, các cuộc khủng hoảng tiếp tục xảy ra nhưng chưa tìm được lối thoát rõ ràng. Để thích ứng với tình hình kinh tế với nhiều biến động trên đòi hỏi các doanh nghiệp phải luôn cố gắng tìm kiếm những giải pháp tối ưu để phát huy tốt nhất lợi thế của mình qua đó nâng cao hiệu quả kinh doanh.
Để làm được điều đó đòi hỏi doanh nghiệp phải không ngừng cải tiến phương thức sản xuất, cách thức quản lý và sử dụng yếu tố đầu vào hợp lý để tạo ra mức sản lượng tối ưu với chi phí thấp nhất. Khi chi phí sản xuất càng thấp thì doanh nghiệp càng chủ động hơn trong giá bán sản phẩm của mình, hơn nữa doanh nghiệp cũng tăng khả năng cạnh tranh về giá với các doanh nghiệp cùng ngành mà vẫn đảm bảo về doanh thu. Dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào thì việc tiết kiệm nguồn lực trong hoạt động sản xuất kinh doanh cũng mang lại những lợi ích nhất định cho doanh nghiệp. Vì thế việc lựa chọn đầu vào (đặc biệt là hai nhân tố vốn và lao động) tối ưu để tối thiểu hóa chi phí càng trở nên quan trọng.
Nó mang tính sống còn của doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp hoạch định được những kế hoạch sản xuất kinh doanh ngắn hạn cũng như dài hạn từ đó giúp doanh nghiệp tồn tại và phát triển bền vững. Công ty TNHH May thời trang Nam Phương là doanh nghiệp vừa sản xuất vừa kinh doanh nên sử dụng nhiều lao động, nguyên nhiên liệu đầu vào. Trong Luan van 2 những năm gần đây, việc điều hành tổ chức kinh doanh của công ty chưa thực sự hiệu quả: việc sử dụng và quản lý chi phí kinh doanh của doanh nghiệp còn chưa hiệu quả gây lãng phí; việc lựa chọn đầu vào lao động còn chưa hợp lý gây ra tình trạng thừa lao động; việc sử dụng vốn trong quá trình sản xuất các sản phẩm chưa hợp lý, hiệu quả chưa cao, chu kỳ luân chuyển vốn lưu động dài. Do vậy, để đảm bảo công ty có thể vượt qua khủng hoảng, có kết quả kinh doanh tốt, đạt được những mục tiêu trong thời gian tới, việc cần thiết trước mắt là phải hoàn thiện các hoạt động sản xuất kinh doanh trong đó có việc lựa chọn đầu vào vốn và lao động tối ưu để tối thiểu hóa chi phí sản xuất kinh doanh, Từ thực tế đó, tác giả đã quyết định lựa chọn đề tài: “Một số giải pháp lựa chọn đầu vào tối ưu để tối thiểu hóa chi phí sản xuất kinh doanh tại công ty TNHH May thời trang Nam Phương.
Tổng quan các công trình nghiên cứu Để hoàn thành được đề tài nghiên cứu này, tác giả đã tham khảo một số bài nghiên cứu của các năm trước đó để làm rõ được vấn đề của đề tài và có sự so sánh điểm giống và khác nhau giữa công trình nghiên cứu này với các công trình đã nghiên cứu từ trước đó. Maw-lin Lee và Ping Wang (2010) với bài viết khảo sát các yếu tố chính của phát triển kinh tế bao gồm các yếu tố tiến bộ kĩ thuật và tích lũy vốn vật chất và con người cùng các yếu tố phía cầu. Bài viết nói về vai trò của nguồn nhân lực, được đo bằng trình độ học vấn, thúc đẩy tăng trưởng sản lượng và mở rộng thị phần thu nhập lao động. Để kiểm chứng cho giả thuyết chung, tác giả đã sử dụng dữ liệu cho Hàn Quốc và Đài Loan, kết quả thực nghiệm cho thấy: (1) Tích lũy vốn vật chất và xuất khẩu mở rộng là yếu tố quyết định quan trọng của đầu ra trong cả hai quốc gia.
(2) Trong khi tiến bộ kỹ thuật đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế của Hàn Quốc. Tăng trưởng kinh tế Đài Loan dựa nhiều vào tăng cường nguồn nhân lực. (3) Cải thiện vốn dẫn đến cổ phiếu thu nhập lao động lớn hơn theo thời gian. Đề tài nghiên cứu của Monci J.Williams (2007): “Managing performance to maximimize result- hiệu suất quản lý nhằm tối đa hóa lợi nhuận”, tác giả đã tập trung trả lời câu hỏi làm thế nào để các doanh nghiệp đạt được các mục tiêu đã đề ra và khẳng định việc đánh giá hiệu quả của lao động được xem là yếu tố quan trọng nhất của quản lý doanh nghiệp.
Sau khi đánh giá, các nhà quản lý cần đưa ra định hướng để phát triển lao động có hiệu suất cao bằng cách đánh giá cả hoạt động chính thức, không chính thức và thông tin phản hồi. Bằng phương pháp tư duy logic kết hợp với tư duy mới, tác giả đã khẳng định vai trò của hiệu quả lao động trong Luan van 3 việc mang lại lợi nhuân tối đa cho doanh nghiệp.Tuy nhiên, trong cuốn sách này, tác giả chưa đề cập nhiều đến vai trò của vốn và công nghệ. Tác giả Julius Enqvist và Michel Graham (2013) với bài viết: “The impact of working capial management on firm profitability in different business cycle: Evidence from Finland- tác động của quản lý vốn lưu động đối với lợi nhuận của doanh nghiệp trong các chu kỳ kinh doanh khác nhau: Bài học từ Phần Lan” lại đề cao vai trò của vốn. Bài báo đã xem xét vai trò của chu kì kinh doanh trên mối quan hệ của vốn – lợi nhuận nhiều hơn là chu kỳ suy thoái kinh tế liên quan tới sự bùng nổ kinh tế.
Mặt khác, bài viết phản ánh tầm quan trọng của quản lý sự lựa chọn đầu vào, quản lý vốn lưu động được xác định rõ trong kế hoạch tài chính của doanh nghiệp. Bài viết nghiên cứu về mô hình tự động tương quan về vốn và lao động được quy định và ước tính cảu tác giả Mathew D. Shapiro – The Quarterly Journal of Economic (1986) với bài nghiên cứu: “The Dynamic Demand for Capital and Labor- Nhu cầu năng động về vốn và lao động”. Tác giả chứng minh được rằng các ước tính này là một trong những điều kiện đầu vào để giải quyết các vấn đề sản xuất kinh doanh mấu chốt của công ty chứ không phải các quy tắc quyết định trong hình thức hay những điều kiện thông thường.
Các ước tính này có liên quan tới các nhu cầu về vốn và trình độ kỹ thuật công nghệ, cho biết tầm quan trọng của vốn và lao động – sự điều chỉnh ước tính ngược lại với cách nhìn tiêu chuẩn , phạm vi giá là yếu tố ảnh hưởng đến đầu tư ở tần số cao. Tác giả John Barron và Dan A.Black (1987) có bài viết: “Employer Size: The implication for Search, Training, Capital Investment, Starting Wages and Wage Growth - Quy mô của người sử dụng lao động: mối quan hệ giữa việc tìm kiếm, đào tạo, đầu tư vốn, mức lương khơi điểm và tăng lương” được cung cấp bởi University of Chicago Press trong tạp chí của Journal of Labor Economics. Trong bài viết này, tác giả đã khảo sát tình hình sử dụng lao động khi thuê và đào tạo lao động với chi phí giám sát cao hơn. Tuy nhiên, các tác giả mới chỉ nói về mặt tổng quan, chưa phân tích sâu trong hoàn cảnh cụ thể nên tính ứng dụng chưa cao.
Hai tác giả Thomas C.Powell và Anne Dent – Micallef (1997) với bài viết: “Information Technology as Competitive Advantage: The Role of Human, Business, and Technology Resource- Công nghệ thông tin là lợi thế cạnh tranh: vai trò của nguồn nhân lực, kinh doanh và công nghệ”. Các tác giả đã nêu lên tầm quan trọng của con người, kinh doanh, công nghệ và lợi thế cạnh tranh của chúng trong sản xuất Luan van 4 kinh doanh. Qua đó vai trò của con người được làm rõ hơn khi tham gia vào hoạt động sản xuất, lợi thế khi lựa chọn được nguồn đầu vào lao động có hiệu quả. Baumol và Alvin K.
Klevorick (1970) với bài nghiên cứu: “Input Choices and Rate - of – Return Regulation- lựa chọn đầu vào và quy định về tỷ lệ chuyển đổi”, bài viết đã đánh giá bản chất của tỷ suất lợi tức của công ty theo mô hình Averch-Johnson. Mô hình này cho biết, để tối đa hóa lợi nhuận, các công ty sẽ có xu hướng sử dụng một tỷ lệ vốn – lao động như thế nào để giảm thiểu chi phí với mức sản lượng nhất định. Như vậy, theo mô hình A – J chúng ta có thể đánh giá được hiệu quả sử dụng đầu vào của doanh nghiệp, từ đó đưa ra tỷ lệ vốn – lao động hợp lý để hoạt động sản xuất của doanh nghiệp đạt hiệu quả cao. Không chỉ có các nghiên cứu ngoài nước, ở trong nước cũng có không ít tác giả đã nghiên cứu đến việc lựa chọn đầu vào tối ưu cho doanh nghiệp.
Cụ thể: Tác giả Bùi Thị Thúy Hiền (2015), trường Đại học Thương mại với đề tài: “Lựa chọn đầu vào vốn và lao động để tối thiểu hóa chi phí sản xuất tại công ty cổ phần Oristar”. Tác giả đã sử dụng kết hợp các phương pháp định lượng và định tính để thu thập và xử lý số liệu từ sơ cấp đến thứ cấp về lượng vốn cũng như số lao động để xây dựng mô hình hàm sản xuất dự báo về mức sản lượng vốn và lao động tối ưu trong hiện tại và dự báo trong thời gian tới, chỉ ra được những thành tựu và những tồn tại, hạn chế trong việc sử dụng vốn, lao động và chi phí quản lý của công ty.