Chương 1 của Luật Doanh nghiệp 2020 đã quy định rõ: “Kinh doanh là việc thực hiện liên tục 7 một, một số hoặc tất cả công đoạn của quá trình từ đầu tư, sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận” Tóm lại, nhìn nhận khái niệm Doanh nghiệp ở góc độ mở rộng tổng quan hay theo từng khía cạnh: “Hình thức thể hiện phổ biến nhất của doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật và mục đích chủ yếu nhất là kinh doanh”. Đặc điểm của doanh nghiệp Mỗi loại hình doanh nghiệp mang những đặc điểm riêng nổi bật, tuy nhiên chúng đều có những đặc điểm chung sau đây: Doanh nghiệp có tính hợp pháp: Doanh nghiệp phải nộp hồ sơ đến cơ quan có thẩm quyền để đăng ký kinh doanh và nhận giấy phép đăng ký thành lập khi muốn thành lập công ty. Khi doanh nghiệp được cấp phép kinh doanh thì doanh nghiệp được công nhận hoạt động kinh doanh, được pháp luật bảo hộ và chịu sự ràng buộc bởi các quy định pháp lý có liên quan. Doanh nghiệp có hoạt động kinh doanh hoặc cung cấp dịch vụ thường xuyên Hầu hết các doanh nghiệp khi thành lập đều hướng đến mục đích tạo ra lợi nhuận qua việc mua bán, sản xuất, kinh doanh hàng hóa hoặc cung ứng để phục vụ người tiêu dùng.Bên cạnh đó, có một số doanh nghiệp xã hội đặc thù, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận mà hướng đến yếu tố vì cộng đồng, vì xã hội và môi trường ví dụ như các doanh nghiệp về điện, nước, vệ sinh,….
Doanh nghiệp có tính tổ chức Tính tổ chức thể hiện qua việc có tổ chức điều hành, cơ cấu nhân sự, có trụ sở giao dịch hoặc đăng ký và có tài sản riêng để quản lý, kèm theo tư cách pháp nhân trừ loại hình doanh nghiệp tư nhân. Khái niệm hoạt động cho vay đối với KHDN tại Ngân hàng thương mại Theo quyết định số 1627/2001/QĐ – NHNN của thống đốc NHNN về việc ban hành quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng “Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi” NHTM có thể tiến hành cho vay với nhiều đối tượng khách hàng như cá nhân, các doanh nghiệp… Tuy nhiên, tùy theo đối tượng vay vốn, khái niệm cho vay có thể hiểu theo những khía cạnh khác nhau. Hiện nay, trong các đối tượng khách hàng của NHTM thì KHDN (KHDN) là đối tượng khách hàng có nhiều tiềm năng nhất. Ưu điểm của KHDN không chỉ là sự gia tăng ngày càng lớn về số lượng mà còn là những đóng góp cho sự phát triển kinh tế và tăng thu nhập dân cư.
Vậy có thể hiểu một cách khái quát rằng: “Cho vay KHDN là hình thức cho vay mà theo đó NHTM cho KHDN sử dụng một khoản tiền để dùng vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi” 1. Phân loại hoạt động cho vay đối với KHDN tại Ngân hàng thương mại 1. Căn cứ vào thời hạn cho vay Cho vay ngắn hạn: Loại cho vay có thời hạn cho vay đến một năm, được sử dụng nhằm đáp ứng các nhu cầu vốn ngắn hạn như bổ sung ngân quỹ, đảm bảo yêu cầu thanh toán đến hạn, bổ sung nhu cầu vốn lưu động. Đặc điểm của loại hình tín dụng này là có mức độ rủi ro thấp vì thời hạn hoàn vốn nhanh giảm được các rủi ro về lãi suất, về lạm phát cũng như sự bất ổn của môi trường kinh tế vĩ mô.
Do đó, loại cho vay này thường có lãi suất thấp hơn so với các loại cấp tín dụng khác. 9 Cho vay trung hạn và dài hạn: Loại cho vay có thời hạn cho vay hơn một năm, chủ yếu sử dụng để mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị, công nghệ, mở rộng thiết bị sản xuất kinh doanh, xây dựng dự án kinh doanh, mua phương tiện vận tải có quy mô lớn, xây dựng xí nghiệp mới. Vì thời hạn dài và hiệu quả đầu tư thường là dự tính nên loại cho vay này thường chứa đựng mức rủi ro cao, kể cả rủi ro cá biệt và rủi ro hệ thống. Do có mức rủi ro cao như vậy nên nó có mức lãi suất cao hơn so với phương thức cho vay ngắn hạn 1.
Căn cứ vào mức độ tín nhiệm đối với khách hàng cho vay Cho vay có tài sản đảm bảo: là loại tín dụng mà các khoản cho vay phát ra đều có tài sản tương đương thế chấp, có các hình thức như cầm cố, thế chấp, chiết khấu và bảo lãnh. Cho vay không có tài sản đảm bảo: là khoản tín dụng mà các khoản cho vay phát ra không cần tài sản thế chấp, mà chỉ dựa vào tín chấp. Loại hình này thường được áp dụng đối với khách hàng truyển thống, có quan hệ lâu dài và sòng phẳng với ngân hàng, khách hàng này phải có tài chính lành mạnh và có uy tín đối với ngân hàng như trả nợ đầy đủ đúng hạn cả gốc lẫn lãi, có dự án sản xuất kinh doanh khả thi, có khả năng hoàn trả nợ…. Căn cứ phương thức cho vay Cho vay từng lần: mỗi lần vay vốn khách hàng và ngân hàng tiến hành thực hiện những thủ tục vay vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng.
Phương thức này áp dụng với những khách hàng có nhu cầu vay vốn không thường xuyên, sản xuất không ổn định, kinh doanh theo thời vụ, thương vụ. Cho vay theo hạn mức tín dụng: Là số dư nợ cho vay cao nhất mà ngân hàng cam kết sẽ thực hiện cho một khách hàng, có hiệu lực trong một thời gian nhất định. Hạn mức tín dụng được xác định trên cơ sở nhu cầu vay vốn của khách hàng và khả năng đáp ứng của ngân hàng. Khi đã được ngân hàng 10 ấn định hạn mức tín dụng thì khách hàng được quyền vay vốn với số dự trong phạm vi của hạn mức tín dụng đó.
Cho vay theo dự án đầu tư: ngân hàng cho khách hàng vay vốn để thực hiện đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các dự án đầu tư phục vụ đời sống. Cho vay hợp vốn: Là loại hình cho vay, trong đó một nhóm NHTM cùng tham gia tài trợ chung một dự án vay. Trong đó một ngân hàng làm đầu mối dàn xếp, phối hợp các ngân hàng còn lại để cùng cho vay. Loại hình này áp dụng trong trường hợp dự án có quy mô vốn lớn, vượt quá khả năng tài trợ của một ngân hàng hoặc vượt quá qui định giới hạn của luật pháp.
Nó cũng được sử dụng với mục tiêu phân tán rủi ro của ngân hàng. Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng: Tổ chức tín dụng chấp thuận cho khách hàng được sử dụng số vốn vay trong phạm vi hạn mức tín dụng để thanh toán tiền mua hàng hóa, dịch vụ và rút tiền mặt tại máy rút tiền tự động hoặc điểm ứng tiền mặt là đại lý của tổ chức tín dụng. Khi cho vay phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, tổ chức tín dụng và khách hàng phải tuân theo các quy định của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về phát hành và sử dụng thẻ tín dụng Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng: Tổ chức tín dụng cam kết đảm bảo sẵn sàng cho khách hàng vay vốn trong phạm vi hạn mức tín dụng nhất định. Tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận thời hạn hiệu lực của hạn mức tín dụng dự phòng, mức phí trả cho hạn mức tín dụng dự phòng.
Cho vay theo hạn mức thấu chi: Là việc cho vay mà tổ chức tín dụng thỏa thuận bằng văn bản chấp thuận cho khách hàng chi vượt số tiền có trên tài khoản thanh toán của khách hàng phù hợp với các quy định của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về hoạt động thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán Bảo lãnh ngân hàng:Là hình thức cấp tín dụng được thực hiện thông qua sự cam kết bằng văn bản của ngân hàng với bên thụ hưởng bảo lãnh về 11 việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng của mình, khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên thụ hưởng bảo lãnh. Khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả lại cho ngân hàng số tiền đã được trả thay. Các phương thức cho vay khác mà pháp luật không cấm, phù hợp với quy định tại Quy chế cho vay và điều kiện hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng và đặc điểm của khách hàng vay 1. MỞ RỘNG HOẠT ĐỘNG CHO VAY ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.
Khái niệm mở rộng hoạt động cho vay đối với KHDN Mở rộng cho vay doanh nghiệp là hoạt động của NHTM nhằm tăng quy mô cho vay doanh nghiệp tại Ngân hàng mình trên cơ sở thay đổi cơ cấu cho vay hợp lý, kiểm soát được rủi ro, nâng cao chất lượng dịch vụ và đảm bảo khả năng sinh lời phù hợp với mục tiêu và chiến lược kinh doanh của NHTM trong từng thời kỳ. Tăng quy mô cho vay là tăng số lượng khách hàng DN, tăng dư nợ bình quân cũng như dư nợ thời điểm trên mỗi khách hàng bằng cách khai thác trên khách hàng sẵn có và tiếp cận, đồng thời cũng dần dần tìm kiếm, mở rộng thêm những đối tượng khách hàng mới, khách hàng tiềm năng. Mở rộng cho vay phải đảm bảo họp lý về cơ cấu tín dụng, nhằm họp lý trong đầu tư vốn theo từng lĩnh vực, ngành nghề, từng loại cho vay, từng mô hình doanh nghiệp. nhằm phân tán rủi ro trong hoạt động cho và đồng thời góp phàn thúc đẩy phát triển kinh tế theo định hướng của địa phương, của Chính phủ.
Mở rộng cho vay doanh nghiệp phải trên cơ sở nâng cao hiệu quả tài chính cũng như đáp ứng được chất lượng dịch vụ cho vay đối với doanh nghiệp. Hiệu quả được phản ánh qua thu nhập từ hoạt động cho vay của NH, chất lượng dịch vụ cho vay thể hiện phong cách phục vụ của NH, sự hài long 12 của khách hàng đối với từng sản phẩm, dịch vụ, đối với thái độ phục vụ của Ngân hàng.