phần mở đầu, kết luận và phụ lục, Luận văn có kết cầu gồm 03 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý thuyết và thực tiễn về tái cấu trúc Chƣơng 2: Thực trạng công tác Tổ chức nhân sự trong Tái cấu trúc Tổng công ty cổ phần VINACONEX Chƣơng 3: Một số giải pháp về Tổ chức nhân sự trong Tái cấu trúc tại Tổng công ty cổ phần VINACONEX. 11 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN VỀ TÁI CẤU TRÚC 1.1 Cơ cấu tổ chức doanh nghiệp 1.1 Khái niệm cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp Có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau về cơ cấu tổ chức của một doanh nghiệp. Thứ nhất, tiếp cận theo lý luận quản lý cổ điển về cơ cấu tổ chức. Quan điểm này cho rằng việc điều hành, phối hợp trong nội bộ một doanh nghiệp, trong một tổ chức là không quan trọng.
Nếu cần điều hành thực hiện thì hoàn toàn có thể dựa vào đội ngũ quản trị cấp cao để giải quyết, công nhân viên phải nghe theo sự chỉ huy của giám đốc. Vì vậy, cách tiếp cận về cơ cấu tổ chức theo trƣờng phái này đề cao tầng lớp giám đ ốc, chứ không phải sự phối hợp giữa các nhân viên thực hiện. Thứ hai, tiếp cận theo lý luận quản lý hiện đại về tổ chức. Quan điểm này lại nhấn mạnh yếu tố công nhân viên trong doanh nghiệp, họ cho rằng thiết kế tổ chức là do nhiệm vụ sản xuất và tố chất của công nhân viên quyết định, cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp là vấn đề rất quan trọng ảnh hƣởng đến thành công của doanh nghiệp.
1 Thứ ba, tiếp cận theo lý luận về thiết kế cơ cấu tổ chức của Lorsch. Ông đƣa ra hai khái niệm cơ bản là sự khác biệt và sự tổng hợp. Lorsch cho rằng, mỗi bộ phận sản xuất của doanh nghiệp đều là một đơn vị nhỏ của doanh nghiệp và giữa chúng có sự khác nhau về cơ cấu tổ chức, khác nhau về trình độ nhận thức và tinh thần, tƣ tƣởng của ngƣời quản trị. Đ ó là sự khác biệt trong tổ chức.
Tuy nhiên, sự khác nhau đó lại đòi hỏi phải có khả năng hợp tác nhất định để điều hành nội bộ doanh nghiệp. Đ ó là khái niệm tổng hợp mà Lorsch đƣa ra.Lorsch là giáo sƣ về khoa học quan hệ nhân quần, là tiến sĩ về quản lý công thƣơng nghiệp của Trƣờng đại học Harvard, một nhân vật nổi tiếng của lý luận quản lý hiện đại thuộc trƣờng phái lý luận quyền biến. Cống hiến của ông tập trung trong lĩnh vực nghiên cứu và thiết kế cơ cấu tổ chức doanh nghiệp. Ông đã viết hơn 10 cuốn sách chuyên đề và rất nhiều luận văn, trong đó nổi tiếng nhất là cuốn “Thiết kế cơ cấu tổ chức” ông viết cùng đồng sự (1970) và cuốn “Tổ chức và hoàn cảnh (1976).
12 Từ các cách tiếp cận cơ bản đó, có thể thấy tổ chức công ty là việc bố trí, sắp xếp mọi ngƣời trong công ty vào những vị trí, những công việc cụ thể. Cơ cấu tổ chức doanh nghiệp là tổng hợp các bộ phận khác nhau, có mối liên hệ và quan hệ phụ thuộc lẫn nhau, để thực hiện nhiệm vụ kinh doanh của doanh nghiệp. Cơ cấu tổ chức doanh nghiệp bao gồm cơ cấu bộ máy quản trị và cơ cấu bộ máy sản xuất. “Cơ cấu bộ máy quản trị là tổng hợp các bộ phận khác nhau, có mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau, đƣợc chuyên môn hóa ở trình độ nhất định, đƣợc trao những trách nhiệm, quyền hạn cụ thể và đƣợc bố trí theo mô hình quản trị thích hợp nhằm thực hiện các nhiệm vụ quản trị với hao phí nguồn lực ít nhất” [5, trang 108, dòng 5].
Nhƣ vậy, trong cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp có hai vấn đề, đó là cơ cấu cơ bản và cơ chế vận hành. Cơ cấu cơ bản liên quan đến những vấn đề chủ yếu trong phân công sắp xếp nhiệm vụ của các phòng ban khác nhau để thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp. Cơ cấu cơ bản đƣợc thể hiện thông qua các sơ đồ cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp. Vấn đề thứ hai là cơ chế vận hành, cơ chế vận hành nhƣ một chất bôi trơn để khích lệ công nhân viên đồng tâm hiệp lực, gắng sức thực hiện mục tiêu.
Đây chính là vấn đề thiết chế của tái cơ cấu.2 Các mô hình tổ chức 1.1 Cơ cấu tổ chức trực tuyến Giám đốc Quản đốc Quản đốc Quản đốc Phân xưởng 1 Phân xưởng 1 Phân xưởng 1 Tổ Tổ Tổ Tổ Tổ Tổ trưởng trưởng trưởng trưởng trưởng trưởng Hình 1.2: Sơ đồ cơ cấu tổ chức trực tuyến Nguồn: Gíáo trình QTKD tổng hợp, trang 18 13 Đây là cơ cấu tổ chức đơn giản nhất, trong đ ó có một cấp trên và một số cấp dƣới theo một kênh liên hệ đƣờng thẳng. Cấp lãnh đạo trực tiếp điều hành và chịu toàn bộ trách nhiệm về sự hoạt động của tổ chức. Cơ cấu tổ chức trực tuyến khá phổ biến ở cuối thế kỷ XIX và chủ yếu đƣợc áp dụng ở những doanh nghiệp nhỏ, sản phẩm không phức tạp. Ngày nay, kiểu cơ cấu này vẫn còn đƣợc áp dụng, đ ặc biệt đ ối với các tổ chức có quy mô nhỏ: tổ, nhóm, các tổ chức quy mô nhỏ.
Đặ c đ iểm cơ bản của cơ cấu tổ chức quản trị trực tuyến là ngƣời lãnh đạo tổ chức thực hiện tất cả các chức năng quản trị, các mối liên hệ giữa các thành viên trong tổ chức đƣợc thực hiện theo đƣờng thẳng, ngƣời thừa hành mệnh lệnh chỉ làm theo mệnh lệnh của một cấp trên trực tiếp. Với những đặc điểm đó, cơ cấu này tạo thuận lợi cho việc thực hiện chế độ một thủ trƣởng, ngƣời lãnh đạo phải chịu trách nhiệm hoàn toàn về kết quả công việc của ngƣời dƣới quyền. Tuy nhiên, kiểu cơ cấu tổ chức này cũng có những nhƣợc điểm. Nó đòi hỏi ngƣời lãnh đạo cần phải có kiến thức toàn diện, tổng hợp hạn chế việc sử dụng các chuyên gia có trình độ cao về từng mặt quản trị; khi cần phối hợp, hợp tác công việc giữa hai đơn vị, hoặc cá nhân ngang quyền thuộc các tuyến khác nhau thì việc báo cáo, thông tin, phải đi đƣờng vòng theo kênh liên hệ đã quy định.2 Cơ cấu tổ chức chức năng Giám đốc Phòng Phòng Phòng Phòng Kế toán Nhân sự Sản xuất Marketing Thủ quỹ Hành chính Kỹ thuật Quảng cáo Thủ quỹ Tiền lương R&D Bán hàng ……… ……………… …………… …………… Hình 1.3: Sơ đồ cơ cấu tổ chức chức năng Nguồn: Giáo trình QTKD tổng hợp, trang 19 14 Cơ cấu chức năng lần đầu tiên đƣợc áp dụng với chế độ đốc công, sau đó phạm vi ứng dụng của nó đƣợc mở rộng ra phù hợp với khối lƣợng công tác quản trị ngày càng lớn.
Những nhiệm vụ quản trị đƣợc phân chia cho các đơn vị riêng biệt theo các chức năng quản trị và hình thành nên những ngƣời lãnh đạo đƣợc chuyên môn hóa chỉ đảm nhận thực hiện một chức năng nhất định. Mối liên hệ giữa các nhân viên trong tổ chức rất phức tạp. Những ngƣời thừa hành nhiệm vụ ở cấp dƣới nhận mệnh lệnh chẳng những từ ngƣời lãnh đạo của doanh nghiệp mà cả từ những ngƣời lãnh đạo các chức năng khác nhau. Ƣu điểm của kiểu cơ cấu này là thu hút đƣợc các chuyên gia vào công tác lãnh đạo, giải quyết các vấn đề chuyên môn một cách thành thạo hơn, đồng thời giảm bớt gánh nặng về quản trị cho ngƣời lãnh đạo doanh nghiệp.
Nhƣợc điểm chủ yếu của cơ cấu chức năng là ngƣời lãnh đạo doanh nghiệp (lãnh đạo chung) phải phối hợp hoạt động của những ngƣời lãnh đạo chức năng, nhƣng do khối lƣợng công tác quản trị lớn, ngƣời lãnh đạo doanh nghiệp khó có thể phối hợp đƣợc tất cả các mệnh lệnh của họ, dẫn đến tình trạng ngƣời thừa hành trong một lúc có thể phải nhận nhiều mệnh lệnh, thậm chí các mệnh lệnh lại trái ngƣợc nhau.3 Cơ cấu tổ chức trực tuyến - chức năng Giám đốc Quản trị chức Quản trị chức Quản trị chức Quản trị chức năng A năng B năng B năng C Quản đốc Quản đốc Quản đốc Phân xưởng 1 Phân xưởng 1 Phân xưởng 1 Quan hệ chức tuyến, chỉ huy Quan hệ chức năng, tham mưu Hình 1.4: Sơ đồ cơ cấu tổ chức trực tuyến- chức năng Nguồn: Giáo trình QTKD tổng hợp, trang 21 15 1.4 Mô hình Công ty mẹ - Công ty con Tổ hợp các doanh nghiệp hoạt động theo mô hình công ty mẹ – công ty con là một nhóm các doanh nghiệp độc lập về pháp lý, nắm giữ cổ phần của nhau và thiết lập đƣợc mối quan hệ mật thiết về nguồn vốn, nguồn nhân lực, công nghệ, cung ứng nguyên vật liệu, tiêu thụ sản phẩm. Tổ hợp các doanh nghiệp này bao gồm công ty mẹ, một số công ty con và một số công ty liên kết. Theo qui định của pháp luật nƣớc ta thì tổ hợp các doanh nghiệp của công ty mẹ – công ty con không phải là chủ thể của pháp luật, không có tƣ cách pháp nhân mà chỉ các doanh nghiệp thành viên trong tổ hợp này (công ty mẹ – công ty con – công ty liên kết) mới có tƣ cách pháp nhân, mới là chủ thể pháp luật. Công ty mẹ là công ty làm chủ sở hữu toàn bộ hoặc một phần vốn điều lệ của công ty khác đủ để chi phối đối với công ty đó.
Công ty mẹ dùng tài sản, vốn của mình để trực tiếp sản xuất kinh doanh và đầu tƣ vào công ty con, công ty liên kết. Công ty mẹ có 2 dạng cơ bản là : Thứ nhất: Công ty mẹ vừa nắm giữ vốn vừa tổ chức trực tiếp sản xuất kinh doanh, nghĩa là vừa làm chức năng đầu tƣ tài chính ra bên ngoài, vừa làm chức năng trực tiếp sản xuất kinh doanh. Thứ hai: Công ty chỉ nắm vốn thuần tuý, nghĩa là chỉ làm chức năng đầu tƣ tài chính. Công ty con là công ty do một công ty khác sở hữu toàn bộ hoặc một phần vốn điều lệ và bị công ty đó chi phối.
Công ty liên kết trong tổ hợp công ty mẹ – công ty con là công ty do công ty mẹ đầu tƣ vốn nhƣng chƣa đến mức chi phối. Công ty con và công ty liên kết có thể là công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty liên doanh. Mô hình tổ chức quản lý công ty con cũng đƣợc tổ chức tùy thuộc vào loại hình công ty.