Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ XUẤT KHẨU 1. Cơ sở lý luận về xuất khẩu 1. Khái niệm xuất khẩu Theo giáo trình “Nghiệp vụ kinh doanh xuất nhập khẩu” - Trần Văn Chu (NXB Đại học Quốc gia Hà Nội 1999), xuất khẩu là hoạt động kinh doanh thu lợi bằng cách bán sản phẩm hoặc dịch vụ ra thị trường nước ngoài và sản phẩm hay dịch vụ đó phải di chuyển ra khỏi biên giới của một quốc gia. Đây không phải là hoạt động bán hàng đơn lẻ mà là một hệ thống bán hàng có tổ chức, có sự giám sát quản lí của nhà nước cả bên trong lần bên ngoài với mục đích thu lợi nhuận, tăng thu ngoại tệ, phát triẻn kinh tế của một quốc gia.
Xuất khẩu nhằm mục đích thu ngoại tệ, tăng tích lũy cho ngân sách nhà nước, phát triển sản xuất kinh doanh, khai thác các ưu thế, tiềm năng đất nước và nâng cao đời sống nhân dân. Khác với hoạt động mua bán sản phẩm diễn ra trong thị trường nội địa, hoạt động xuất khẩu phức tạp hơn hơn nhiều. Bởi vì đây là hoạt động buôn bán vượt qua biên giới quốc gia, thị trường thế giới là vô cùng rộng lớn, khó kiểm soát, thanh toán bằng ngoại tệ mạnh đồng thời còn phải tuân thủ theo những tập quán, thông lệ quốc tế cũng như luật pháp của từng địa phương. Theo quy định tại khoản 1 điều 28 luật Thương mại 2005 thì khái niệm xuất khẩu được nêu cụ thể như sau: “Xuất khẩu hàng hoá là việc hàng hoá được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật” Như vậy, xuất khẩu được hiểu là hoạt động đưa các hàng hoá và dịch vụ từ quốc gia này sang quốc gia khác nhằm thu lợi nhuận.
Đây là hình thức thâm nhập thị trường nước ngoài ít rủi ro và chi phí thấp nhất. Với các nước có nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam thì xuất khẩu đóng vai trò rất lớn đối với nền kinh tế và đối với các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu. Hình thức xuất khẩu Trên thị trường thế giới, các nhà buôn giao dịch với nhau theo những cách thức nhất định. Ứng với mỗi phương thức xuất khẩu có đặc điểm riêng, kỹ thuật tiến hành riêng tuy nhiên trong thực tế xuất khẩu thường sử dụng một trong những phương thức chủ yếu sau: 1.
Xuất khẩu trực tiếp Xuất khẩu trực tiếp là là hình thức xuất khẩu từ nước người bán (nước xuất khẩu) trực tiếp sang nước người mua (nước nhập khẩu) chứ không qua nước thứ ba (nước trung gian). Thông qua hình thức này, nhà sản xuất trực tiếp bán sản phẩm cho khách hàng nước ngoài tại thị trường nước ngoài thông qua các tổ chức, chi nhánh 3 của mình, có thể là công ty con hoặc chi nhánh bán hàng tại nước ngoài và thu về lợi nhuận ngay. Hình thức xuất khẩu trực tiếp có ưu điểm là các nhà xuất khẩu tiếp xúc trực tiếp thị trường và khách hàng, nắm bắt tình hình chính trị, văn hóa, pháp luật, xã hội của thị trường rõ ràng cụ thể, kiểm soát được nhiều hơn tiến trình xuất khẩu. Nhờ đó hoạt động xuất khẩu thực hiện nhanh, chất lượng sản phẩm đáp ứng nhu cầu của khách hàng.
Các doanh nghiệp xuất khẩu không phải chia sẻ quyền lợi của mình với các tố chức trung gian nên lợi nhuận cao hơn và có điều kiện tiếp thu kinh nghiệm xuất khẩu sang môi trường quốc tế. Tuy nhiên hạn chế của hình thức xuất khẩu trực tiếp là doanh nghiệp xuất khẩu sẽ phải chịu rủi ro lớn, tốn nhiều thời gian, chi phí để tìm hiểu, mở rộng thị trường và tự tổ chức hoạt động xuất khẩu. Bên cạnh đó, những doanh nghiệp nhỏ khó có cơ hội để thâm nhập các thị trường mới, nhất là những thị trường khó tính khi doanh nghiệp vẫn chưa có thương hiệu và uy tín cao trên thị trường. Đây là hình thức xuất khẩu hàng hóa dịch vụ do chính doanh nghiệp sản xuất ra hoặc đặt mua từ các đơn vị sản xuất trong nước, sau đó xuất khẩu các sản phẩm ra thị trường nước ngoài.
Người bán và người mua trực tiếp quan hệ với nhau bằng cách gặp mặt, qua thư từ để bàn bạc, thỏa thuận một cách tự nguyện. Nội dung thỏa thuận không có sự ràng buộc với lần giao dịch trước việc không mua không nhất thiết phải gắn liền với việc bán. Hoạt động xuất khẩu hàng hóa theo phương thức này chỉ khác với hoạt động nội thương ở chỗ: bên mua và bên bán có quốc tịch khác nhau, đồng tiền thanh toán là ngoại tệ đối với một hoặc cả hai bên, hàng hóa được di chuyển qua biên giới. Trong giao dịch làm một loạt các công việc như: nghiên cứu tiếp cận thị trường, người mua hỏi giá và đặt hàng, người bán chào giá… Sau đó hai bên hoàn giá và chấp nhận giá, cuối cùng là kí kết hợp đồng.
Xuất khẩu gián tiếp Xuất khẩu gián tiếp hay còn gọi là ủy thác xuất khẩu, là hình thức mua bán trao đổi hàng hóa của các tổ chức, doanh nghiệp trong nước với các đối tác nước ngoài gián tiếp thông qua trung gian hay còn gọi là bên thứ ba. Các trung gian mua bán chủ yếu trong kinh doanh xuất khẩu là: đại lý, công ty quản lý xuất nhập khẩu và công ty kinh doanh xuất nhập khẩu. Các trung gian không trực tiếp tạo ra sản phẩm mà chỉ trợ giúp cho công ty có hàng hóa xuất sang thị trường nước ngoài. Hình thức xuất khẩu gián tiếp giúp các doanh nghiệp dễ dàng thâm nhập vào thị trường mới ngay cả khi không am hiểu thị trường đó, do vậy mà giảm thiểu được phần nào các rủi ro.
Tất cả công việc đã có bên trung gian đảm nhận: từ khâu tìm 4 kiếm bạn hàng, thời gian chi phí cho các công việc nghiên cứu, đàm phán, ký kết do đó mà doanh nghiệp giảm được các chi phí trong quá trình giao dịch. Tuy nhiên, do làm việc gián tiếp nên doanh nghiệp rất khó tiếp cận với người tiêu dùng cuối cùng và việc nắm bắt các biến động thị trường cũng như những thị hiếu của thị trường mục tiêu gặp khó khăn hơn. Xuất khẩu gián tiếp thông qua bên trung gian sẽ tạo cho doanh nghiệp ở thế bị động và phụ thuộc phần lớn vào bên thứ ba do đã ủy thác quyền xuất khẩu cho họ. Đồng thời phần lợi nhuận thu về cũng sẽ bị giảm đi do phải chia một phần hoa hồng của mình cho họ.
Gia công quốc tế Gia công quốc tế là hoạt động thương mại, theo đó bên nhận gia công sử dụng một phần hoặc toàn bộ nguyên liệu, vật liệu của bên đặt gia công để thực hiện một hoặc nhiều công đoạn trong quá trình sản xuất theo yêu cầu của bên đặt gia công để hưởng thù lao. Bên đặt gia công thường là những nước phát triển và bên nhận gia công thường là những nước đang phát triển có nguồn lao động dồi dào, giá rẻ. Ưu điểm: Cả 2 bên tham gia hoạt động này đều có lợi. Đối với bên đặt gia công thì họ có thể tìm kiếm được nguồn lao động giá rẻ cũng như những ưu đãi về đầu tư tại các nước đang phát triển.
Đối với bên nhận gia công thì họ có thể giải quyết được việc làm cho lao động, được hỗ trợ trong chuyển giao công nghệ, hoàn thiện hơn trình phân công lao động quốc tế, đẩy mạnh quá trình chuyển giao công nghệ. Nhược điểm: Thù lao gia công tương đối thấp, quá trình chuyển giao công nghệ có thể mang tính tiêu cực. Nếu không quy định luật rõ ràng thì bên nhận gia công có thể nhận các thiết bị rác, các thiết bị lạc hậu từ nước đặt gia công. Tạm nhập tái xuất Tạm nhập, tái xuất là một trong các hình thức mua bán hàng hóa quốc tế.
Hình thức tạm nhập tái xuất được hiểu là hàng đưa ra nước ngoài rồi lại đưa về nước như đưa phương tiện đi sửa chữa (máy bay, tàu biển) hoặc hàng đưa đi triển lãm rồi lại đưa về. Hiểu một cách đơn giản, tạm nhập tái xuất là việc một thương nhân Việt Nam nhập khẩu hàng hóa từ một quốc gia, được làm đầy đủ thủ tục thông quan nhập khẩu vào Việt Nam, sau đó thương nhân Việt Nam làm thủ tục xuất khẩu chính hàng hóa đã nhập khẩu này sang một quốc gia khác hoặc có thể là chính quốc gia đã xuất khẩu ban đầu. Ưu điểm của hình thức này là giúp doanh nghiệp thu được lợi nhuận tối đa nhưng lại tiết kiệm được hầu hết các chi phí cho hoạt động đầu tư và nhà xưởng; nhân công; máy móc; công nghệ đồng thời giúp các doanh nghiệp thu được vốn về nhanh hơn. Xuất khẩu tại chỗ 5 Xuất khẩu tại chỗ là một hình thức xuất khẩu mà hàng hoá không di chuyển ra khỏi biên giới quốc gia mà được sử dụng ở các khu chế xuất hoặc doanh nghiệp bán sản phẩm cho các tổ chức nước ngoài ở trong nước.
Sau khi kí hợp đồng nhập khẩu hàng hóa của một doanh nghiệp tại một nước, sẽ chỉ dịch giao hàng hóa cho một khách hàng khác, đã có thỏa thuận với người mua ngay trước đó. Hoạt động này có thể đạt được hiệu quả cao do hàng hóa không cần phải vượt qua biên giới quốc gia nên doanh nghiệp tránh được một số thủ tục rắc rối của hải quan, không phải thuê phương tiện vận chuyển, mua bảo hiểm hàng hóa trong khi vẫn có thể thu được ngoại tệ. Do đó giảm được một lượng tri phí khá lớn. Ngày nay hình thức này càng phổ biến rộng rãi hơn nhưng nhược điểm là các doanh nghiệp bán hàng sẽ thu được lợi nhuận ít hơn nhưng nó cũng có nhiều thuận lợi là các thủ tục bán hàng, quản lí được rủi ro, hợp đồng được thực hiện nhanh hơn, tốc độ quay vòng sản phẩm nhanh hơn.
Chuyển khẩu Đó là việc mua hàng từ một nước, vùng lãnh thổ để bán sang một nước, vùng lãnh thổ ngoài lãnh thổ của quốc gia đó mà không cần làm thủ tục nhập khẩu cũng như thủ tục xuất khẩu ra khỏi lãnh thổ của quốc gia đó. Vai trò của xuất khẩu Xuất khẩu mang lại nhiều vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của quốc gia xuất khẩu. Xuất khẩu không chỉ là hoạt động diễn ra giữa các cá nhân riêng lẻ mà còn liên quan đến việc quản lí toàn bộ hệ thống kinh tế và các quốc gia.