Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong công cuộc đổi mới kinh tế tại Việt Nam, việc thực hiện nhất quán chính sách phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa đã đặt các doanh nghiệp Nhà nước trước những yêu cầu cấp thiết về đổi mới tổ chức và phương thức kinh doanh. Bước vào thời kỳ tự do hóa thương mại, các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu phải trực tiếp đối diện với áp lực cạnh tranh gay gắt từ thị trường quốc tế, buộc phải nâng cao năng lực nội tại và chất lượng sản phẩm để tồn tại và phát triển bền vững.

Cây chè là cây công nghiệp lâu năm có chu kỳ sinh trưởng dài (từ 50 đến 70 năm, cá biệt có những vùng chè cổ thụ như Suối Giàng - Nghĩa Lộ đạt tuổi thọ 300 - 400 năm), mang lại giá trị kinh tế và giá trị xã hội to lớn. Sản xuất và xuất khẩu chè không chỉ tạo nguồn thu ngoại tệ cho đất nước mà còn đóng vai trò chiến lược trong việc xóa đói giảm nghèo, phân bổ lại lực lượng lao động từ đồng bằng lên miền núi, cải thiện môi trường sinh thái thông qua việc phủ xanh đất trống đồi trọc và giữ gìn an ninh biên giới.

Tổng công ty Chè Việt Nam (Vinatea) giữ vai trò là "con chim đầu đàn" của ngành chè cả nước, đã từng bước thích nghi với cơ chế thị trường và mở rộng mạng lưới khách hàng quốc tế. Tuy nhiên, hoạt động sản xuất kinh doanh xuất khẩu của Tổng công ty vẫn đối mặt với nhiều khó khăn, thử thách: chất lượng nguyên liệu chưa đồng đều, chủng loại sản phẩm cao cấp còn chiếm tỷ trọng thấp, chi phí kinh doanh tăng cao và áp lực cạnh tranh từ các thương hiệu chè quốc tế ngay trên thị trường nội địa. Xuất phát từ bối cảnh thực tiễn đó, tác giả Chu Thị Hằng đã thực hiện chuyên đề tốt nghiệp nhằm nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp thúc đẩy xuất khẩu chè cho Tổng công ty.

Văn bản xác định mục đích nghiên cứu thông qua 3 nhiệm vụ cụ thể:

  1. Làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động kinh doanh xuất khẩu và vai trò của xuất khẩu đối với nền kinh tế quốc dân cũng như đối với doanh nghiệp kinh doanh thương mại.
  2. Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh và xuất khẩu chè của Tổng công ty Chè Việt Nam trong giai đoạn 1998 - 2000 (kết hợp chuỗi số liệu cơ cấu chủng loại và thị trường giai đoạn 1995 - 1999), chỉ ra những thành tựu đạt được và những hạn chế còn tồn tại.
  3. Đề xuất một số giải pháp cơ bản mang tính khả thi nhằm tháo gỡ khó khăn, nâng cao chất lượng sản phẩm, hoàn thiện nghiệp vụ và mở rộng thị trường xuất khẩu của Tổng công ty trong thời gian tới.
  • Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động kinh doanh xuất khẩu chè của Tổng công ty Chè Việt Nam.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Không gian: Các hoạt động quản lý, sản xuất, thu mua, chế biến và thương mại xuất khẩu tại Tổng công ty Chè Việt Nam và các đơn vị thành viên, vùng nguyên liệu trực thuộc trên cả nước.
    • Thời gian: Tập trung phân tích chuyên sâu các dữ liệu thực tế từ năm 1998 đến năm 2000, có đối chiếu với chuỗi dữ liệu phát triển ngành từ năm 1995.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết của đề tài được xây dựng trên hệ thống lý luận kinh doanh thương mại quốc tế, quản trị xuất nhập khẩu và phân tích môi trường kinh doanh:

  • Khái niệm và đặc điểm xuất khẩu: Hoạt động xuất khẩu được tiếp cận không phải là các hành vi bán hàng riêng lẻ mà là một hệ thống các mối quan hệ kinh tế - thương mại phức tạp có tổ chức, bao gồm các khâu từ nghiên cứu thị trường, tạo nguồn hàng, đàm phán, ký kết hợp đồng, giao nhận vận tải, bảo hiểm, làm thủ tục hải quan cho đến thanh toán quốc tế và giải quyết tranh chấp.
  • Các hình thức xuất khẩu: Phân tích các hình thức xuất khẩu chủ yếu theo quy định thương mại như xuất khẩu trực tiếp, xuất khẩu qua trung gian (ủy thác), buôn bán đối lưu (hàng đổi hàng), gia công quốc tế, tạm nhập tái xuất và chuyển khẩu.
  • Khung phân tích môi trường kinh doanh: Đánh giá tác động đa chiều của các yếu tố khách quan bao gồm môi trường văn hóa - xã hội (quy mô dân số, cơ cấu hộ gia đình, thu nhập, thị hiếu), môi trường chính trị - luật pháp, môi trường kinh tế - công nghệ và môi trường cạnh tranh (phân loại 4 trạng thái thị trường: cạnh tranh thuần túy, cạnh tranh hỗn tạp, cạnh tranh độc quyền và độc quyền hoàn toàn; các chiến lược cạnh tranh của doanh nghiệp dẫn đầu như đổi mới, củng cố, đối đầu, quấy nhiễu).
  • Cơ sở pháp lý: Căn cứ vào các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động ngoại thương thời kỳ này, tiêu biểu là Nghị định 33/CP ngày 19/04/1994 của Chính phủ về quản lý hoạt động xuất nhập khẩu và Quyết định số 55/1998/QĐ-TTg ngày 02/03/1998 của Thủ tướng Chính phủ (có hiệu lực từ 18/03/1998) về việc trao quyền tự chủ xuất khẩu cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế theo đăng ký kinh doanh.

Phương pháp nghiên cứu được tác giả sử dụng trong chuyên đề:

  • Phương pháp thu thập thông tin: Kết hợp nghiên cứu tại bàn (nghiên cứu tài liệu thứ cấp, văn bản pháp quy, số liệu báo cáo tài chính) và nghiên cứu tại hiện trường (quan sát thực tế quá trình thực tập tại các phòng ban chuyên môn).
  • Phương pháp thống kê và phân tích số liệu: Sử dụng phương pháp dãy số thời gian, tính toán số tương đối, số tuyệt đối, so sánh định gốc (lấy năm 1998 làm gốc) để lượng hóa tốc độ tăng trưởng doanh thu, biến động chi phí, cơ cấu thị trường và chủng loại sản phẩm.
  • Phương pháp phân tích - tổng hợp: Đánh giá chuỗi giá trị sản xuất từ khâu chọn giống, thâm canh, thu hái, vận chuyển, chế biến đến tiêu thụ sản phẩm.

Nguồn dữ liệu được cung cấp và tổng hợp từ:

  • Phòng Tài chính - Kế toán, Phòng Đối ngoại, Phòng Kế hoạch, các Phòng Kinh doanh trực thuộc Tổng công ty Chè Việt Nam.
  • Tài liệu lưu trữ và báo cáo chuyên ngành của Hiệp hội Chè Việt Nam và Viện Nghiên cứu Chè.

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Vai trò và nội dung của hoạt động kinh doanh xuất khẩu ở doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu

Chương này trình bày hệ thống lý luận tổng quan về thương mại quốc tế và các hoạt động nghiệp vụ xuất nhập khẩu:

  • Vai trò của xuất khẩu: Khẳng định xuất khẩu là nguồn tạo vốn chủ yếu phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế; mở rộng thị trường tiêu thụ và giải quyết việc làm cho hàng triệu lao động. Đối với doanh nghiệp, xuất khẩu là động lực đổi mới công nghệ, nâng cao trình độ quản lý, gia tăng quy mô tiêu thụ và tạo nguồn thu ngoại tệ để tái đầu tư.
  • Các hình thức xuất khẩu: Làm rõ cơ chế vận hành của xuất khẩu trực tiếp, xuất khẩu ủy thác, buôn bán đối lưu, gia công quốc tế và tạm nhập tái xuất/chuyển khẩu.
  • Nội dung và quy trình nghiệp vụ xuất khẩu: Phân tích chi tiết quy trình 10 khâu từ nghiên cứu thị trường (tại bàn và hiện trường); lập chiến lược và kế hoạch kinh doanh thông qua các chỉ tiêu tài chính (tỷ suất ngoại tệ, điểm hòa vốn, thời gian hòa vốn, tỷ suất doanh lợi); tạo nguồn hàng xuất khẩu (nghiên cứu nguồn hàng thực tế và tiềm năng, tổ chức mạng lưới đại lý thu mua, ký kết hợp đồng thu mua, kho vận, bảo quản); đàm phán và ký kết hợp đồng ngoại thương (chào giá, hoàn giá, chấp nhận, xác nhận); đến tổ chức thực hiện hợp đồng (kiểm tra L/C, chuẩn bị hàng, kiểm nghiệm qua SGS hoặc Vinacontrol, thuê tàu theo điều kiện CIF/CFR/FOB, mua bảo hiểm A/B/C, làm thủ tục hải quan 3 bước, giao hàng lên tàu, thanh toán quốc tế và giải quyết khiếu nại).
  • Các nhân tố ảnh hưởng: Hệ thống hóa các nhân tố khách quan từ môi trường vĩ mô (văn hóa - xã hội, chính trị - luật pháp, kinh tế - công nghệ) và môi trường cạnh tranh tác động trực tiếp đến hiệu quả ngoại thương.
QUY TRÌNH THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG XUẤT KHẨU

Chương II: Thực trạng xuất khẩu chè của Tổng công ty Chè Việt Nam từ 1998 - 2000

Chương II tập trung phân tích sâu thực trạng tổ chức, hoạt động sản xuất nông nghiệp, chất lượng sản phẩm và kết quả kinh doanh xuất khẩu của Tổng công ty Chè Việt Nam:

1. Cơ cấu tổ chức và vị trí ngành chè:

  • Tổng công ty hoạt động theo mô hình trực tuyến chức năng dưới sự lãnh đạo của Hội đồng quản trị và Tổng Giám đốc, quản lý trực tiếp và tham gia quản lý 12 công ty trực thuộc, 6 công ty cổ phần, các công ty liên doanh, 12 đơn vị liên kết sản xuất, Viện Nghiên cứu Chè, Trung tâm KCS và hệ thống các phòng ban nghiệp vụ (Kế hoạch - Đầu tư & Hợp tác quốc tế, Kỹ thuật Nông nghiệp, Kỹ thuật Công nghiệp, Thị trường, Tài chính - Kế toán, các Phòng Kinh doanh 2, 3, 4, 5, các chi nhánh tại Hải Phòng và TP. Hồ Chí Minh).
  • Cả nước có tiềm năng quỹ đất trồng chè khoảng 20 vạn ha nhưng mới khai thác khoảng 7 vạn ha. Ngành chè thu hút hơn 22.000 lao động chính và gần 300.000 lao động phụ, dịch vụ. Thu nhập bình quân toàn ngành tăng từ 250.000 đồng/người/tháng (năm 1996) lên 350.000 đồng/người/tháng (năm 1999).

2. Đánh giá chất lượng chè xuất khẩu:

  • Về giống: Giống chè Trung du chiếm 59% diện tích, giống Shan chiếm 27,3%, còn lại là PH1 và các giống mới (LĐP1, LĐP2, TR777, Bát Tiên, Ngọc Thúy...). Giống Trung du và PH1 cho năng suất khá nhưng chất lượng không cao, vị hơi đắng, hương kém thơm.
  • Về thâm canh và thu hái: Đầu tư cho trồng mới chỉ đạt 6 - 7 triệu đồng/ha (40% yêu cầu), chăm sóc đạt 3 - 3,5 triệu đồng/ha (80% yêu cầu). Việc bón phân mất cân đối (nặng về đạm, thiếu hữu cơ và vi lượng). Tình trạng lạm dụng thuốc trừ sâu đáng báo động: kiểm nghiệm 15 mẫu tại 5 đơn vị phát hiện 4 mẫu (26%) của 3 đơn vị có dư lượng vượt mức cho phép. Kỹ thuật thu hái không tuân thủ nguyên tắc "một tôm hai lá", hái chè già từ 5 - 7 lá gây hư hỏng thiết bị và giảm phẩm cấp.
  • Về vận chuyển và phân vùng: Khâu vận chuyển chỉ thu mua 2 lần/ngày (so với Ấn Độ là 4 - 6 lần/ngày), làm chè bị lèn chặt, ôi ngốt. Vùng chè trên 500m (Sơn La, Lai Châu, Hà Giang, Yên Bái) có chất lượng nguyên liệu vượt trội nhưng tỷ lệ khuyết tật còn cao (trừ Công ty Chè Mộc Châu nâng tỷ lệ chè cao cấp từ 63% năm 1994 lên 86% năm 1998, chè OP loại 1 tăng 16,31 lần). Vùng chè dưới 500m (Thái Nguyên, Phú Thọ, Nghệ An) có hiện tượng mọc lên nhiều xưởng chế biến nhỏ lẻ làm giảm uy tín sản phẩm chung.

3. Kết quả kinh doanh và cơ cấu sản phẩm:

  • Tỷ trọng phân loại chè của Tổng công ty gồm: OP (10%), FBOP (25%), P (8%), PS (18%), BPS (25%), F (10%), Dust (4%). Nhóm 3 sản phẩm phẩm cấp tốt mới đạt 43% (mục tiêu cần đạt 60%).
  • Chè đen giữ vị thế là mặt hàng xuất khẩu chủ lực; chè CTC (sản xuất theo công nghệ Ấn Độ) có xu hướng gia tăng; chè xanh có xu hướng giảm dần; chè thành phẩm (chè đóng hộp, chè túi lọc như Đông Đô, Phú Quốc, Thanh Tâm) có tỷ trọng biến động (đạt 7,11% năm 1998 nhưng giảm xuống 3,10% năm 1999).
Chỉ tiêu kinh tế Năm 1998 Năm 1999 Năm 2000 Tăng trưởng 1999/1998 (%) Tăng trưởng 2000/1998 (%)
Tổng doanh thu (triệu đồng) 267.241 311.161 348.659 +16,4% +30,4%
Tỷ trọng doanh thu XK / Tổng DT 86,5% 90,8% 80,9% - -
Chi phí kinh doanh / Giá vốn 27,0% 28,3% 43,6% - -
Tăng trưởng lợi nhuận kinh doanh Gốc - - +71,6% +134,3%
Sản lượng chè xuất khẩu (tấn) - 19.740 22.000 - +11,45% (so 1999)
Kim ngạch xuất khẩu (triệu USD) - - 31,0 - -

4. Thị trường và nghiệp vụ xuất nhập khẩu:

  • Thị trường xuất khẩu chiếm trên 80% - 90% doanh thu, tập trung vào các khu vực: Nga và các nước SNG, Đông Âu, Trung Cận Đông, Pakistan, Đài Loan, Nhật Bản và Bắc Mỹ. Tổng công ty đã lập dự án thành lập công ty 100% vốn Việt Nam tại Liên bang Nga để củng cố thị phần.
  • Nghiệp vụ tạo nguồn hàng: Hình thức thu mua theo hợp đồng mua đứt bán đoạn chiếm gần 80% giá trị thu mua; hình thức đầu tư liên doanh liên kết chiếm hơn 45% giá trị đối với hàng nông sản; hình thức ủy thác chiếm tỷ lệ nhỏ. Hàng hóa xuất khẩu chủ yếu giao theo điều kiện CIF/CFR.

Chương III: Giải pháp cơ bản thúc đẩy xuất khẩu chè của Tổng công ty

Dựa trên các phân tích thực trạng ở Chương II, tác giả xây dựng hệ thống các giải pháp đồng bộ:

  • Quy hoạch vùng nguyên liệu và nâng cao chất lượng chè: Thực hiện nghiêm túc quy trình kỹ thuật thâm canh, cân đối tỷ lệ phân bón hữu cơ và vô cơ; kiểm soát chặt chẽ việc sử dụng hóa chất và thuốc bảo vệ thực vật nhằm xóa bỏ dư lượng vượt ngưỡng; chuẩn hóa kỹ thuật thu hái "một tôm hai lá"; cải tiến phương tiện và tăng tần suất vận chuyển búp tươi từ 4 - 6 lần/ngày để tránh ôi ngốt dập nát.
  • Chuyển đổi cơ cấu giống và sản phẩm: Đẩy nhanh việc thuần hóa và nhân rộng các giống chè mới có năng suất và hương vị tốt (Shan, Bát Tiên, Ngọc Thúy, các giống khảo nghiệm từ Nhật Bản); nâng tỷ trọng chè cấp cao (OP, FBOP) lên trên 60%; phát triển công nghệ chế biến chè CTC và các dòng sản phẩm có giá trị gia tăng cao (chè hòa tan, chè túi lọc ướp hương).
  • Cải tiến bao bì, đóng gói: Chuyển đổi từ xuất khẩu thô (đóng bao tải, thùng gỗ dán) sang bao bì carton, màng nhôm, nilông với quy cách nhỏ (20g, 50g, 100g) có nhãn mác rõ ràng nhằm tăng giá trị đơn vị và đáp ứng thị hiếu người tiêu dùng quốc tế.
  • Chiến lược thị trường và xúc tiến thương mại: Giữ vững các thị trường truyền thống (Nga, Đông Âu, Trung Cận Đông); đẩy mạnh thâm nhập thị trường có giá trị cao (Nhật Bản, Bắc Mỹ, EU); hoàn thiện việc thành lập pháp nhân tại Nga; chủ động phát triển thị trường nội địa để cạnh tranh với các thương hiệu ngoại (Lipton, Dilmah).
  • Hoàn thiện công tác quản lý và nghiệp vụ ngoại thương: Nâng cao năng lực đàm phán hợp đồng, kiểm soát chi phí kinh doanh (vốn đang chiếm tới 43,6% so với giá vốn), đào tạo đội ngũ cán bộ chuyên môn về thẩm định tín dụng quốc tế và nghiên cứu thị trường.

Kết quả và đóng góp

  • Tổng hợp kết quả nghiên cứu bằng số liệu thực tiễn:

    • Năm 2000, Tổng công ty Chè Việt Nam đạt sản lượng xuất khẩu 22.000 tấn chè (tăng 11,45% so với năm 1999), đóng góp vào tổng sản lượng xuất khẩu chè cả nước là 55.000 tấn (đạt 69 triệu USD sang gần 40 quốc gia).
    • Doanh thu của Tổng công ty tăng trưởng liên tục: từ 267.241 triệu đồng (1998) lên 311.161 triệu đồng (1999) và đạt 348.659 triệu đồng (2000). Tỷ trọng doanh thu xuất khẩu luôn duy trì ở mức áp đảo (86,5% năm 1998; 90,8% năm 1999 và 80,9% năm 2000).
    • Lợi nhuận kinh doanh năm 2000 ghi nhận mức tăng 134,3% so với mốc gốc năm 1998.
  • Đóng góp của chuyên đề:

    • Khắc họa toàn diện bức tranh ngành chè và hoạt động xuất khẩu của Vinatea trong giai đoạn bản lề chuyển giao kinh tế 1998 - 2000.
    • Phân tích chi tiết chuỗi liên kết từ nông nghiệp (giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, thu hái) đến công nghiệp chế biến và thương mại dịch vụ, chỉ rõ các điểm nghẽn kỹ thuật làm suy giảm sức cạnh tranh của chè Việt Nam.
    • Đề xuất hệ thống giải pháp gắn kết giữa cải tiến kỹ thuật nông nghiệp với chiến lược thị trường thương mại quốc tế có tính ứng dụng thực tế cao cho doanh nghiệp nhà nước.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế:
    • Thời gian thực tập ngắn và phạm vi thu thập dữ liệu thứ cấp bị giới hạn trong giai đoạn 1998 - 2000 nên một số chỉ tiêu tài chính chi tiết trong các biểu bảng tổng hợp chưa được phân rã sâu theo từng quý.
    • Nghiên cứu tập trung chủ yếu vào cấp độ Tổng công ty, chưa thể khảo sát sâu toàn bộ các đơn vị chế biến tư nhân và nông hộ độc lập ngoài hệ thống liên kết của Vinatea.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Cần mở rộng phân tích chuỗi dữ liệu trong các giai đoạn tiếp theo khi Việt Nam đẩy mạnh hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế (tham gia AFTA, ký kết BTA Việt - Mỹ và chuẩn bị gia nhập WTO).
    • Nghiên cứu sâu hơn về tác động của các hàng rào kỹ thuật (TBT, SPS), tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm quốc tế và chứng nhận chỉ dẫn địa lý đối với ngành hàng chè xuất khẩu.

Giá trị tham khảo

Chuyên đề tốt nghiệp là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và thực tiễn cho:

  • Sinh viên và học viên: Thuộc các chuyên ngành Kinh tế đối ngoại, Kinh doanh quốc tế, Thương mại quốc tế và Quản trị kinh doanh nông nghiệp cần nguồn tư liệu thực tế về quy trình xuất nhập khẩu hàng hóa nông sản.
  • Nhà nghiên cứu và cán bộ quản trị doanh nghiệp: Tham khảo khung phân tích chất lượng nguyên liệu, cách thức tổ chức mạng lưới thu mua tạo nguồn hàng và mô hình liên doanh liên kết chế biến - xuất khẩu nông sản thời kỳ đổi mới.

Câu hỏi thường gặp

1. Tỷ trọng doanh thu xuất khẩu chiếm bao nhiêu phần trăm trong tổng doanh thu của Tổng công ty Chè Việt Nam giai đoạn 1998 - 2000?
Doanh thu xuất khẩu là nguồn thu chủ lực của Tổng công ty, chiếm 86,5% năm 1998, tăng lên mức đỉnh điểm 90,8% năm 1999 và đạt 80,9% năm 2000.

2. Thực trạng cơ cấu giống chè của Tổng công ty trong giai đoạn nghiên cứu như thế nào?
Giống chè Trung du chiếm diện tích lớn nhất (59%), tiếp theo là giống Shan (27,3%), phần còn lại là giống PH1 và một số giống mới nhập nội (LĐP1, LĐP2, Bát Tiên, Ngọc Thúy, giống Nhật Bản). Giống Trung du và PH1 có năng suất khá nhưng hương vị hơi đắng, phẩm cấp chưa cao.

3. Cơ cấu chủng loại chè xuất khẩu của Tổng công ty gồm những loại nào và tỷ lệ mặt hàng cao cấp đạt bao nhiêu?
Cơ cấu mặt hàng gồm: OP (10%), FBOP (25%), P (8%), PS (18%), BPS (25%), F (10%), Dust (4%). Nhóm 3 sản phẩm phẩm cấp tốt (OP, FBOP, P) mới chỉ đạt 43%, trong khi mục tiêu phấn đấu của Tổng công ty là 60%.

4. Những nguyên nhân chính nào từ khâu sản xuất nông nghiệp làm giảm chất lượng chè xuất khẩu?
Các nguyên nhân chính gồm: đầu tư chăm sóc và trồng mới thấp (chỉ đạt 40% - 80% yêu cầu); bón phân thiếu cân đối (nặng về đạm, thiếu hữu cơ); lạm dụng thuốc trừ sâu khiến 26% số mẫu kiểm tra có dư lượng vượt ngưỡng; thu hái quá già (5 - 7 lá thay vì tiêu chuẩn "một tôm hai lá"); và tần suất vận chuyển nguyên liệu búp tươi trong ngày quá ít (2 lần/ngày) gây ôi ngốt dập nát.

5. Hình thức thu mua tạo nguồn hàng xuất khẩu chủ yếu của Tổng công ty Chè Việt Nam là gì?
Hình thức thu mua chủ yếu là theo hợp đồng "mua đứt bán đoạn", chiếm gần 80% tổng giá trị hàng hóa thu mua. Bên cạnh đó, hình thức đầu tư và liên doanh liên kết chiếm hơn 45% giá trị đối với nhóm hàng nông sản xuất khẩu.


Kết luận

Chuyên đề tốt nghiệp của tác giả Chu Thị Hằng đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về kinh doanh xuất nhập khẩu và phân tích thực trạng hoạt động xuất khẩu chè của Tổng công ty Chè Việt Nam giai đoạn 1998 - 2000. Công trình chỉ rõ các thành tựu về tăng trưởng quy mô doanh thu, giữ vững thị phần truyền thống, đồng thời vạch ra các rào cản nội tại về kỹ thuật thâm canh, dư lượng hóa chất và cơ cấu sản phẩm thô. Hệ thống giải pháp đề xuất mang tính đồng bộ từ khâu giống, canh tác nông nghiệp, đóng gói mẫu mã đến xúc tiến thương mại quốc tế, cung cấp tài liệu tham khảo thiết thực cho công tác quản trị xuất khẩu nông sản Việt Nam.