CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA TỔ CHỨC CÔNG ĐOÀN TRONG DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM 1.1 Cơ sở lý luận về công đoàn và hoạt động của công đoàn trong doanh nghiệp ở Việt Nam 1.1 Một số khái niệm cơ bản về công đoàn và hoạt động của tổ chức công đoàn trong các doanh nghiệp Cuốn Lịch sử chủ nghĩa Công đoàn (History of Trade Unionism) (1984) của Sidney và Beatrice Webb quan điểm rằng: “công đoàn là một hiệp hội của những người làm công ăn lương có mục đích duy trì hay cải thiện các điều kiện thuê mướn họ”. Có một định nghĩa hiện đại khác cho rằng “công đoàn là một tổ chức hợp thành chủ yếu bởi những người làm thuê, hoạt động cơ bản là thương lượng về lương bổng và điều kiện thuê mướn cho các thành viên của nó”. Trong cuốn "Đường cách mệnh" của Nguyễn Ái Quốc, Người viết "tổ chức Công hội trước là để cho công nhân đi lại với nhau cho có cảm tình; hai là để nghiên cứu với nhau; ba là để sửa sang cách sinh hoạt của công nhân cho khá hơn bây giờ; bốn là để giữ gìn lợi quyền cho công nhân; năm là để giúp đỡ quốc dân; giúp cho thế giới" Theo Điều 1 Luật Công đoàn Việt Nam sửa đổi năm 2012: "Công đoàn là tổ chức chính trị - xã hội rộng lớn của giai cấp công nhân và của người lao động được thành lập trên cơ sở tự nguyện, là thành viên trong hệ thống chính trị của xã hội Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; đại diện cho cán bộ, công chức, viên chức, công nhân và những người lao động khác (gọi chung là người lao động)". Tuy cách thức diễn đạt khác nhau nhưng các tác giả đều thống nhất về tổ chức công đoàn ở một số điểm chính sau: + Là một tổ chức hợp thành từ giai cấp công nhân và người lao động.
+ Chăm lo và bảo vệ quyền lợi của người lao động. + Tham gia quản lý và giáo dục người lao động cùng nhau xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Từ đó, đề tài lựa chọn khái niệm tiếp cận tổ chức Công đoàn là: “Công đoàn là một tổ chức chính trị xã hội đại diện cho giai cấp công nhân và người lao động, cùng với các cơ quan Nhà nước và các tổ chức kinh tế, xã hội chăm lo và bảo vệ quyền lợi của người lao động; tổ chức quản lý và giáo dục người lao động xây dựng và bảo vệ Tổ 7 quốc. Công đoàn là một tổ chức thành viên trong hệ thống chính trị của xã hội Việt Nam và chịu sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam” Theo quy định tại Điều 8 Điều lệ Công đoàn Việt Nam, cơ cấu tổ chức của Công đoàn Việt Nam có 4 cấp cơ bản: Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam; Liên đoàn Lao động tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, công đoàn ngành trung ương; Công đoàn cấp trên cơ sở; Công đoàn cơ sở, nghiệp đoàn.
Trong đó, công đoàn cơ sở chính là tổ chức công đoàn trong doanh nghiệp, đại diện cho người lao động trong doanh nghiệp, được thành lập nhằm chăm lo và bảo vệ quyền lợi cho người lao động và đó chính là đối tượng mà đề tài sẽ đi nghiên cứu.2 Một số khái niệm chung về hoạt động của tổ chức công đoàn trong doanh nghiệp Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các mục đích kinh doanh. Như vậy, theo quy định của pháp luật hiện hành, có những loại hình tổ chức kinh doanh sau: công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân thuộc mọi thành phần kinh tế (sau đây gọi chung là doanh nghiệp); nhóm công ty. (Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2015) Theo quy định tại Khoản 6 Điều 3 của Luật Đầu tư 2005 định nghĩa “Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là doanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài thành lập để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam hoặc là doanh nghiệp Việt Nam do nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, sáp nhập, mua lại”. Pháp luật hiện hành quy định tổ chức kinh tế 100% vốn của nhà đầu tư nước ngoài hoặc tổ chức kinh tế liên doanh giữa các nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài thành lập doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo các loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh theo quy định của Luật Doanh nghiệp.
Hoạt động công đoàn trong doanh nghiệp với vai trò là tổ chức đại diện của người lao động và là chủ thể của quan hệ lao động, thực hiện việc tham vấn, đối thoại, thương lượng với người sử dụng lao động và các cơ quan nhà nước nhằm mục tiêu vừa bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động, vừa góp phần xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ trong doanh nghiệp. Đồng thời, tập hợp yêu cầu, 8 nguyện vọng hợp pháp, chính đáng của đoàn viên và người lao động; tổ chức đối thoại giữa người lao động và người sử dụng lao động; phối hợp với người sử dụng lao động tổ chức các phong trào thi đua, phát triển sản xuất kinh doanh chăm lo đời sống vật chất, tinh thần đối với người lao động; vận động người lao động tham gia các hoạt động văn hóa, thể thao, hoạt động xã hội, hỗ trợ giúp đỡ nhau trong nghề nghiệp, trong cuộc sống, đấu tranh ngăn chặn các tệ nạn xã hội [1]. Giám sát việc thực hiện pháp luật có liên quan đến quyền, nghĩa vụ người lao động và Công đoàn; tham gia các hội đồng của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật và điều lệ doanh nghiệp; tham gia xây dựng các nội quy, quy chế có liên quan đến quyền, lợi ích của người lao động; tổ chức, quản lý mạng lưới an toàn, vệ sinh viên và giám sát công tác an toàn vệ sinh lao động, chăm sóc sức khỏe người lao động trong doanh nghiệp[2].2 Nội dung hoạt động của tổ chức công đoàn trong doanh nghiệp ở Việt Nam Nội dung hoạt động công đoàn Việt Nam căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của tổ chức công đoàn và được quy định tại Điều lệ Công đoàn Việt Nam. Đối với doanh nghiệp, nội dung hoạt động công đoàn bao gồm 4 nội dung cơ bản sau: Chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của NLĐ Tham gia cơ chế hai bên và các hoạt động góp phần lành mạnh hóa quan hệ lao động trong DN HOẠT ĐỘNG CÔNG ĐOÀN TRONG DN Tuyên truyền, vận động, giáo dục NLĐ Xây dựng và thực hiện các cơ chế quản lý mới Hình 1.
Các nội dung hoạt động công đoàn trong DN ở Việt Nam (nguồn: nghiên cứu của học viên) 9 1.1 Chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của NLĐ *Mục đích Đây có thể coi là chức năng số một của tổ chức công đoàn, làm tốt nội dung này thì vai trò, vị trí của tổ chức công đoàn đối với người lao động mới được khẳng định. * Cách thức thực hiện Để thực hiện tốt được nội dung trên, tổ chức công đoàn cần phải tập trung giải quyết các công việc sau: Một là, đại diện cho NLĐ xây dựng quy chế mối quan hệ phối hợp với NSDLĐ. Hai là, cử người đại diện công đoàn tham gia các tổ chức theo quy định của pháp luật như: Hội đồng hòa giải; Hội đồng thi đua, kỷ luật; Hội đồng Bảo hộ lao động. Ba là, hướng dẫn người lao động ký hợp đồng lao động.
Bốn là, lắng nghe ý kiến của người lao động, đề xuất cải thiện điều kiện làm việc, môi trường làm việc; hướng dẫn mạng lưới an toàn vệ sinh lao động. Năm là, theo dõi việc thực hiện chế độ chính sách theo quy định pháp luật Sáu là, tham gia giải quyết đơn thư, khiếu nại của đoàn viên, NLĐ, tham gia giải quyết tranh chấp lao động tập thể; lãnh đạo đình công. Bảy là, quan tâm công tác chăm lo hoạt động xã hội; vận động xây dựng các loại quỹ và đẩy mạnh các hoạt động tình nghĩa, tương trợ, thăm hỏi đối với công nhân viên chức lao động có hoàn cảnh khó khăn, tổ chức các hoạt động vui chơi, văn nghệ, thể thao nâng cao đời sống tinh thần cho người lao động.2 Tham gia cơ chế hai bên và các hoạt động góp phần lành mạnh hóa quan hệ lao động trong doanh nghiệp *Mục đích Trong doanh nghiệp để giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa người sử dụng lao động và người lao động thì công đoàn giữ vai trò hết sức quan trọng vừa là người đại diện cho quyền lợi của người lao động vừa là cầu nối để giải quyết hài hòa mối quan hệ đó để góp phần xây dựng môi trường lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ, góp phần quan trọng trong thực hiện cơ chế hai bên tại doanh nghiệp. *Cách thức thực hiện Để thực hiện tốt vai trò này, công đoàn cơ sở với tư cách là đại diện cho người lao động ở doanh nghiệp để tham gia, thương lượng với người sử dụng lao động về những 10 vấn đề liên quan đến quyền lợi của người lao động theo quy định của pháp luật cần phải thực hiện tốt một số nội dung sau: -Công đoàn cơ sở phối hợp với NSDLĐ tổ chức hội nghị người lao động theo NĐ 87-NĐ/CP về thực hiện quy chế dân chủ trong các công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc tổ chức đại hội công nhân viên chức theo NĐ 07-NĐ/CP đối với doanh nghiệp nhà nước: Đại diện thương lượng và ký Thỏa ước lao động tập thể, giám sát việc thực hiện và bổ sung, điều chỉnh cho phù hợp điều kiện và tình hình thực tế; Tham gia xây dựng nội quy lao động, quy chế trả lương, thưởng, phúc lợi xã hội.
- Công đoàn cử người đối thoại trong các hội đồng trong doanh nghiệp như: Hội đồng quản trị, ban quản trị, ban kiểm soát, hội đồng tư vấn, hội đồng tuyển dụng lao động, hội đồng kỷ luật, hội đồng lương, hội đồng khoa học, hội đồng thi đua khen thưởng, hội đồng phân phối. - Công đoàn đối thoại trong các hội nghị hiệp thương giữa người sử dụng lao động và người lao động; - Công đoàn đối thoại trong các hội nghị liên tịch. Đây là hình thức phối hợp bàn bạc, trao đổi, thương lượng, phân công tách nhiệm giữa công đoàn với nhà quản lý hoặc các tổ chức đoàn thể để cùng thực hiện một nhiệm vụ có liên quan đến công tác tổ chức, quản lý.