CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP. NƯỚC NGOÀI VÀO MỘT ĐỊA PHƯƠNG 1. Khái niệm và các hình thức chủ yếu của đầu tư trực tiếp nước ngoài 1. Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF, 1993) cho rằng “FDI là một khoản đầu tư dài hạn, theo đó, nhà đầu tư trực tiếp thu được lợi ích lâu dài từ một doanh nghiệp đặt tại một 'n kinh tế khác.
Mục đích của nhà đầu tư là muốn có nhiều ảnh hưởng trong. quản lý doanh nghiệp đặt tại nền kinh tế khác đó”. Đầu tư trực tiếp bao hàm các giao dịch đầu tiên, tiếp đến là các giao dịch về vốn giữa hai thực thể được liên kết chặt chẽ. Trong đó, nhà đầu tư trực tiếp được hiểu là người nắm quyền kiểm soát từ 10% vốn của một doanh nghiệp trở lên.
UNCTAD (2017) cho rằng, "FDI la một sự đầu tư thực hiện dé có được lợi ích lâu dài trong doanh nghiệp hoạt động bên ngoài của nền kinh tế của nhà đầu tư, mục đích của chủ đầu tư là để đạt được một tiếng nói hiệu quả trong việc quản lý của doanh nghiệp”. Luật đầu tư Việt Nam: “Nhà đầu tư nước ngoài là cá nhân có quốc tịch nước ngoài, tổ chức thành lập theo pháp luật nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam”. [14; điều 3] Từ các khái niệm trên ta có thể hiểu “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là hoạt động. đầu tư trực tiếp của chủ thể đầu tư nước ngoài tại một quốc gia nhất định, bao hàm cả việc đầu tư vốn và trực tiếp quản lý kinh doanh số vốn đó, nhằm mục đích lợi nhuận”.
Đầu tư nước ngoài là sự dịch chuyển tải sản như tiền, công nghệ, kỹ năng quản lý. từ nước này sang nước khác để kinh doanh nhằm thu lợi nhuận cao trên phạm vi toàn cầu. Vốn FDI là một trong những kênh đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài Tùy vào mục đích nghiên cứu mà các tổ chức cá nhân có thê đưa ra cách hiểu. khách nhau về FDI.
Theo UNCTAD, FDI là một khoản đầu tư bao gồm các mối quan hệ trong dài hạn, phản ánh lợi ích và quyền kiểm soát lâu dài của một thực thể thường trú ở một nền kinh tế (nhà đầu tư nước ngoài hay công ty mẹ nước ngoài) trong một doanh nghiệp thường trú ở một nền kinh tế khác với nền kinh tế của nhà đầu tư nước ngoài (doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, doanh nghiệp liên doanh hoặc chỉ nhánh nước ngoài) Đối với IMF, họ quan niệm rằng “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là vốn đầu tư thực hiện để thu được lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động ở một nền kinh tế khác với én kinh tế của nhà đầu tư. Mục đích là dành được tiếng nói có hiệu quả trong quản lý doanh nghiệp đó”. Khái niệm này đã nhắn mạnh đến tính lâu dài của quá trình đầu tư, chủ đầu tư là nước ngoài và việc đầu tư ở đây gắn liền với quyền kiểm soát quản lý. Các hình thức chủ yếu của đầu tư trực tiếp nước ngoài 1.
Thành lập tổ chức kinh tế 100% vốn của nhà đâu tư nước ngoài Hình thức doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài là hình thức truyền thống và phô biến của FDI. Với hình thức này, các nhà đầu tư, cùng với việc chú trọng khai thác những lợi thế của địa điểm đầu tư mới, đã nỗ lực tìm cách áp dụng các tiến bộ khoa học công nghệ, kinh nghiệp quản lý trong hoạt ông kinh doanh để đạt hiệu quả cao nhất. Hình thức này phổ biến ở quy mô đầu tư nhỏ nhưng cũng rất được các nhà đầu tư ưu thích đối với các dự án quy mô lớn. Hiện nay, các công ty xuyên quốc gia thường đầu tư theo hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài và họ thường thành lập một công ty con của công ty mẹ xuyên quốc gia Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài thuộc sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài nhưng phải chịu sự kiểm soát của pháp luật nước nhận đầu tư, Là một pháp nhân kinh tế của nước sở tại, doanh nghiệp phải được đầu tư, thành lập và chịu sự quản lý của nhả nước của nước sở tại.
Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là doanh nghiệp thuộc quyền sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài tại nước chủ nhà, nhà đầu tư phải tự quản lý, tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh. Về hình thức pháp lý, dưới hình thức này, theo Luật Doanh nghiệp 2005, có các loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp tư nhân, công ty cô phần. Hình thức 100% vốn đầu tư nước ngoài có ưu điểm là nước chỉ nhà không cần bỏ vốn, tránh được những rủi ro trong kinh doanh, thu ngay được tiền thuê đất, thuế, giải quyết được việc làm cho người lao động. Mặt khách, do độc lập về quyền sở hữu nên các nhà đầu tư nước ngoài chủ động đầu tư và để cạnh tranh, họ thường đầu tư công nghệ mới, phương tiện kỹ thuật tiên tiến nhằm đạt được hiệu quả kinh doanh cao, góp phần nâng cao trình độ tay nghề của người lao động.
Tuy nhiên, hình thức này có nhược điểm là nước chủ nhà khó tiếp nhận được kinh nghiệm quản lý và công nghệ, khó kiểm soát được đối tác đầu tư nước ngoài và không có lợi nhuận 1. Thành lập doanh nghiệp liên doanh giữa các nhà đẫu tr trong nước và nhà đâu tư nước ngoài. Day là hình thức rộng rãi trên thế giới từ trước đến nay. Hình thức này cũng.
rất phổ biến ở Việt Nam, nhất là giai đoạn đầu thu hút FDI. Doanh nghiệp liên doanh là doanh nghiệp được thành lập tại nước sở tại trên cơ sở hợp đồng kiên doanh được ký giữa Bên hoặc các Biên nước chủ nhà với Bên hoặc các Bên nước ngoài để đầu tư kinh doanh tại nước sở tại Như vậy, hình thức doanh nghiệp liên doanh tạo nên pháp nhân đồng sở hữu nhưng địa điểm đầu tư phải ở nước sở tại. Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. liên doanh phụ thuộc rất lớn vào môi trường kinh doanh của nước sở tại, bao gồm các yếu tố kinh tế, chính trị, mức độ hoàn thiện pháp luật, trình độ của đối tác liên doanh tại nước sở tại, Hình thức doanh nghiệp liên doanh có những ưu điểm là góp phần giải quyết tình trạng thiếu vốn, nước sở tại tranh thủ được nguồn vốn lớn đề phát triển kinh tế nhưng lại được chia sẻ rủi ro, có cơ hội để đổi mới công nghệ, đa dạng hóa sản phẩm, tạo cơ hội cho người lao động có việc làm và học tập kinh nghiệp của nước ngoài.
Nhà nước của nước sở tại cũng dễ dàng hơn trong việc kiểm soát đói tác đầu tư. Về phía nhà đầu tư, hình thức này là công cụ để thâm nhập vào thị trường nước ngoài một cách hợp pháp và hiệu quả, tạo thị trường mới. Tủy nhiên, hình thức này có nhược điểm là thường dễ xuất hiện mâu thuẫn trong quá trình điều hành, quản lý doanh nghiệp do các bên có sự khác nhau về trình độ, phong tục tập quán, truyền thống, văn hóa. Nước sở tại thường rơi vào thế bát lợi do tỷ lệ góp vốn thấp, năng lực, trình độ quản lý của cán bộ trong doanh nghiệp liên doanh yếu.
Đầu tư theo hình thức hợp đông kinh doanh BCC Hợp đồng liên doanh là hình thức đầu tư được ký bởi các nhà đầu tư nhằm hợp tác kinh doanh phân chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm mà không thành lập pháp nhân. 'Về cơ sở pháp lý, hợp đồng BCC là hợp đồng đầu tư nhưng không thành lập pháp nhân mới, quyền và nghĩa vụ của các bên chỉ ràng buộc với nhau bởi hợp đồng mà không có sự ràng buộc về mặt tổ chức như ở các hình thức đầu tư thành lập pháp nhân mới. Chủ thể của hợp đồng là các nhà đầu tư bao gồm nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài. Số lượng chủ thể trong từng hợp đồng không giới hạn, tùy thuộc vào quy mô dự án và nhu cầu, khả năng mong muốn của các nhà đầu tư.
Hình thức này có ưu điểm là giúp giải quyết tình trạng thiếu vốn, công nghệ, tạo thị trường mới, bảo đảm được quyền điều hành dự án của nước sở tại, thu lợi nhuận tương đối ôn định. Tuy nhiên, nó có nhược điểm là nước sở tại không tiếp nhận được kinh nghiệm quản lý, công nghệ thường lạc hậu, chỉ thực hiện ở một số ít dự án đễ sinh lời như thăm dò dầu khí 1. Hình thức BOT, BTO, BT BOT là hình thước đầu tư được ký giữa cơ quan nhà nước có thảm quyền và nhà đầu tư để xây dựng, kinh doanh công trình kết cấu hạ tằng trong một thời hạn nhất định, hết thời hạn, nhà đầu tư chuyển giao không bồi hoàn công trình đó cho nước sở tại BTO là hình thức đầu tư được ký giữa cơ quan nhà nước có thâm quyền và nhà đầu tư đề xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư chuyên giao công trình đó cho nhà nước Việt Nam; Chính phủ dành cho nhà đầu tư quyền kinh doanh công trình đó trong một thời hạn nhất định đề thu hồi vốn dau tư và lợi nhuận. BT là hình thức đầu tư được ký kết giữa cơ quan nhà nước có thâm quyền và nhà đầu tư để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; sau khi xây dựng xong nha đầu tư chuyển giao công trình đó cho Nhà nước Việt Nam; Chính phủ tạo điều kiện cho.
nhà đầu tư thực hiện một dự án khác đề thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận hoặc thanh toán cho nhà đầu tư theo thỏa thuận trong hợp đồng BT. Ưu điểm của hình thức này là thu hút vốn đầu tư vào các dự án kết cấu ha tầng, đòi hỏi lượng vốn lớn, thu hồi vốn trong thời gian dài, làm giảm áp lực cho. ngân sách nhà nước. Đồng thời, nước sở tại sau khi chuyển giao có được những công trình hoàn chỉnh, tạo điều kiện phát huy các nguồn lực khác đề phát triển kinh tế.
Tuy nhiên, hình thức BOT có nhược điểm là độ rủi ro cao, đặc biệt là rủi ro chính sách, nước chủ nhà khó tiếp cận kinh nghiệm quản lý, công nghệ. Vai trò của thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với quốc gia nhận đầu trr Thứ nhất, FDI là nguài ợ cho phát triển FDI là một trong những nguồn quan trọng đề bù đắp sự thiếu hụt về vốn ngoại tệ của các nước nhận đầu tư, đặc biệt là đối với các nước kém phát triển.