CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ MỞ RỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1. Khái niệm Doanh nghiệp có thể được hiểu một cách chung nhất là một tổ chức kinh tế được thành lập nhằm sản xuất, cung ứng sản phẩm hàng hóa hoặc dịch vụ trên thị trường. Khoản 10 Điều 4 Luật Doanh nghiệp số 59/2020/QH14 ngày 17 tháng 06 năm 2020 thì doanh nghiệp được hiểu như sau: Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh.
Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận (Theo khoản 21 Điều 4 Luật Doanh nghiệp số 59/2020/QH14 ngày 17 tháng 06 năm 2020) Từ khái niệm trên ta thấy: doanh nghiệp trước hết phải là chủ thể kinh tế độc lập, có hoặc không có tư cách pháp nhân, có tên gọi và hoạt động với danh nghĩa riêng, thực hiện các hoạt động sản xuất, kinh doanh trên thị trường và chịu trách nhiệm độc lập về mọi hoạt động kinh doanh của mình. Trong nền kinh tế thị trường có nhiều loại hình doanh nghiệp cùng tồn tại, phát triển và cạnh tranh lẫn nhau. Tuy nhiên, để thuận lợi cho việc quản lý, hỗ trợ các doanh nghiệp phát triển, người ta thường dựa theo những tiêu thức khác nhau để phân loại doanh nghiệp. Dựa và quan hệ sở hữu về vốn và tài sản, các doanh nghiệp được chia thành: doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp cổ phần và doanh nghiệp tư nhân.
- Doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp do nhà nước thành lập, đầu tư vốn và quản lý. - Doanh nghiệp cổ phần là các doanh nghiệp có sự đan xen của các hình thức sở hữu khác nhau trong cùng một doanh nghiệp. - Doanh nghiệp tư nhân là những doanh nghiệp do cá nhân đầu tư vốn và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. 6 Dựa vào mục đích kinh doanh, người ta chia doanh nghiệp thành doanh nghiệp hoạt động kinh doanh (vì mục tiêu lợi nhuận) và doanh nghiệp hoạt động công ích (không vì mục tiêu lợi nhuận).
- Doanh nghiệp hoạt động kinh doanh là những doanh nghiệp được thành lập và hoạt động theo cơ chế thị trường với mục tiêu thu lợi nhuận. - Doanh nghiệp hoạt động công ích là doanh nghiệp thành lập để thực hiện các hoạt động sản xuất, lưu thông hay cung ứng các dịch vụ công cộng, trực tiếp thực hiện các chính sách xã hội của nhà nước hoặc thực hiện các nhiệm vụ an ninh quốc phòng. Mục đích chính của các doanh nghiệp này là hiệu quả về mặt kinh tế, xã hội nói chung. Dựa vào lĩnh vực hoạt động kinh doanh, các doanh nghiệp có thể được chia thành: doanh nghiệp tài chính và doanh nghiệp phi tài chính.
- Doanh nghiệp tài chính là doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tài chính, là các tổ chức tài chính trung gian như các ngân hàng thương mai, công ty tài chính, công ty bào hiểm,… Những doanh nghiệp này cung ứng cho nền kinh tế các dịch vụ tài chính, tiền tệ, bảo hiểm,.… - Doanh nghiệp phi tài chính là các doanh nghiệp lấy hoạt động sản xuất kinh doanh các hàng hóa và dịch vụ thông thường là chủ yếu. Dựa vào quy mô kinh doanh người ta chia thành doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp vừa và doanh nghiệp nhỏ. Việc quy định tiêu thức như thế nào là doanh nghiệp lớn, vừa và nhỏ tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, xã hội của từng nước trong từng giai đoạn cụ thể. Thông thường những tiêu thức được lựa chọn là: số lượng cán bộ nhân viên bình quân, vốn đầu tư, tổng tài sản, doanh thu tiêu thụ.
Việc phân loại theo tiêu thức này giúp nhà nước có những chính sách hợp lý nhằm hỗ trợ phát triển các DNNVV trong từng thời kỳ. Tiêu chuẩn doanh nghiệp nhỏ và vừa 1. Tiêu chuẩn của một số quốc gia trên thế giới DNNVV là một thành phần quan trọng không thể thiếu của nền kinh tế mỗi quốc gia trên toàn thế giới. Ở mỗi quốc gia, mỗi khu vực và nền kinh tế lại có cách xác định tiêu chí về nó khác nhau.
Nếu như tại các quốc gia Châu Âu, DNNVV được phân loại dựa vào số lao động, doanh thu, lợi nhuận và vốn đầu tư; thì tại các nước châu Mỹ thì DNNVV được xác định dựa trên cả sự đóng góp của doanh nghiệp vào ngân sách nhà nước; còn tại châu Á, DNNVV được phân loại dựa vào 3 tiêu chí cơ bản đó là số lao động, vốn đầu tư và doanh thu hàng năm. 7 Theo tiêu chí phân loại của Ngân hàng thế giới (World Bank), căn cứ vào quy mô có thể chia DNNVV thành ba loại: doanh nghiệp siêu nhỏ (micro), doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa. Các tiêu chí để phân loại DNNVV của World Bank chủ yếu dựa vào số lượng lao động bình quân, tài sản và doanh thu hàng năm của doanh nghiệp. Ngoài ra World Bank còn đưa thêm tiêu chí về quy mô vay trung bình để phân loại DNNVV.1: Tiêu chí phân loại DNNVV của World Bank Qui mô công ty Nhân viên Tài sản Doanh thu hàng năm Siêu nhỏ < 10 < $100,000 < $100,000 Nhỏ 10 - 49 < $3 triệu < $3 triệu Vừa 50 - 299 < $15 triệu < $15 triệu Quy mô vay trung bình Siêu nhỏ < $10,000 Nhỏ < $100,000 Vừa < $1 triệu (< $2 triệu đối với một số quốc gia tiên tiến) 1.
Tiêu chuẩn ở Việt Nam Theo tiêu chuẩn ở Việt Nam, doanh nghiệp nhỏ và vừa bao gồm: doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa; được xác định theo lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản; công nghiệp và xây dựng; thương mại và dịch vụ. Nghị định 80/2021/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa 2017 quy định các tiêu chí dùng để xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa được dựa trên số lượng lao động tham gia bảo hiểm xã hội; tổng vốn hoặc tổng doanh thu năm trước liền kề. Cụ thể, Điều 5 Nghị định này quy định như sau Quy mô DN Siêu nhỏ DN Nhỏ DN vừa Tổng DT, Số lao Tổng DT, Số lao Tổng DT, Số lao Khu vực tổng NV động tổng NV động tổng NV động Tổng doanh Tổng Tổng nguồn I. Nông, lâm thu của năm doanh thu vốn của Từ 10 Từ 100 nghiệp, thủy không quá 3 10 người của năm năm từ 20 tỷ đến đến dưới sản và Công tỷ đồng hoặc trở không quá đến 100 tỷ 100 200 nghiệp và xây tổng nguồn xuống 50 tỷ đồng hoặc tổng người người dựng vốn của năm hoặc tổng doanh thu không quá 3 nguồn vốn của năm 8 tỷ đồng của năm dưới 200 tỷ không quá đồng 20 tỷ đồng Tổng Tổng doanh doanh thu Tổng nguồn thu của năm của năm vốn của không quá không quá năm từ 20 tỷ Từ 50 II.
Thương 10 tỷ đồng 10 người 100 tỷ Từ 10 đến 100 tỷ đến dưới mại và dịch hoặc tổng trở đồng hoặc đến 50 hoặc tổng 100 vụ nguồn vốn xuống tổng nguồn người doanh thu người của năm vốn của của năm không quá 3 năm không dưới 300 tỷ tỷ đồng quá 50 tỷ đồng đồng (Nguồn: Nghị định số: 80/2021/NĐ-CP) 1. Đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa Ngoài những đặc trưng vốn có của một doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế, DNNVV còn có những đặc điểm riêng biệt xuất phát từ tính chất hoạt động như sau: Thứ nhất, DNNVV có quy mô hoạt động sản xuất kinh doanh và tiềm lực nhỏ; ít vốn và khả năng tiếp cận vốn hạn chế. Với lượng vốn đầu tư giới hạn và số lượng lao động tối đa là 200 người thì quy mô doanh nghiệp là tương đối nhỏ. Điều này mang lại một số lợi thế cho doanh nghiệp như khả năng dễ thành lập, dễ gia nhập thị trường, khả năng thu hồi vốn nhanh.
Những lợi thế này đã tạo điều kiện cho các DNNVV phát triển trong nhiều ngành nghề, trên nhiều địa bàn, lấp vào các khoảng trống mà doanh nghiệp lớn để lại. 9 Tuy nhiên, do quy mô vốn nhỏ nên DNNVV bị hạn chế trong khả năng tiến hành đầu tư vào mặt bằng, nhà xưởng, máy móc thiết bị và nguyên vật liệu. Các DNNVV thường không đạt được lợi thế về quy mô như các doanh nghiệp lớn. Hơn nữa, quy mô nhỏ và vấn đề minh bạch thông tin hạn chế cũng khiến cho các doanh nghiệp khó khăn trong việc tiếp cận với các nhà đầu tư để huy động vốn từ các ngân hàng cũng như từ thị trường chứng khoán.
Vì vậy các DNNVV phụ thuộc nhiều vào nguồn vốn phi chính thức, chiếm dụng từ đối tác và lợi nhuận giữ lại. Đối với các doanh nghiệp tiếp cận được nguồn vốn tín dụng của ngân hàng, nguồn tài trợ này không phải lúc nào cũng đáp ứng được nhu cầu của doanh nghiệp do hạn chế về thủ tục vay vốn đối với ngân hàng, phương án sản xuất kinh doanh chưa hoàn thiện, tài sản đảm bảo chưa đáp ứng được các tiêu chuẩn của ngân hàng…. Thứ hai, loại hình doanh nghiệp và ngành nghề lĩnh vực kinh doanh phong phú. DNNVV hoạt động dưới nhiều loại hình doanh nghiệp như hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác, doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần,… trên nhiều lĩnh vực, ngành nghề khác nhau.
Nhờ quy mô nhỏ, có khả năng tận dụng được nguồn lao động và nguyên vật liệu tại địa phương, dễ dàng đáp ứng được những thay đổi trong nhu cầu của thị trường nên DNNVV phát triển nhanh chóng, là nhân tố đóng góp vào ổn định đời sống xã hội, thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế. Thứ ba, chiến lược sản xuất kinh doanh, trình độ khoa học kỹ thuật và năng lực cạnh tranh hạn chế. Nhiều DNNVV thiếu một chiến lược kinh doanh rõ ràng, phù hợp với sứ mệnh, mục tiêu của doanh nghiệp mà đa phần chỉ xây dựng các kế hoạch sản xuất kinh doanh mang tính tạm thời, ngắn hạn, đáp ứng nhu cầu biến động của thị trường. Do đó, DNNVV thường có xu hướng đi chệch ra sứ mệnh và mục tiêu đề ra ban đầu và thiếu sự điều chỉnh kịp thời và hợp lý.
10 Trong thời đại khoa học kỹ thuật thay đổi nhanh chóng, đầu tư vào khoa học kỹ thuật để nâng cao chất lượng sản phầm, dịch vụ, tiết kiệm chi phí trở thành điều kiện cốt lõi để giúp bất kỳ một doanh nghiệp nào nâng cao năng lực cạnh tranh.