Chương 1: Cơ sở l luận về phát triển hoạt động cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa tại ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng phát triển hoạt động cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam - Chi nhánh Tuyên Quang. Chương 3: Giải pháp phát triển hoạt động cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam - Chi nhánh Tuyên Quang. 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG CHO VAY DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.Khái quát về doanh nghiệp nhỏ và vừa 1.
Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa Doanh nghiệp nhỏ và vừa là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ bé về mặt vốn, lao động hay doanh thu. Theo Luật Hỗ trợ Doanh nghiệp nhỏ và vừa Số: 20/VBHN-VPQH ban hành ngày 15/07/2020: “doanh nghiệp nhỏ và vừa là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật, thực hiện hoạt động SXKD vì mục tiêu lợi nhuận, giới hạn về quy mô lao động, vốn, doanh thu, cụ thể: có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 người và đáp ứng một trong hai tiêu chí sau đây: a) Tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng; b) Tổng doanh thu của năm trước liền kề không quá 300 tỷ đồng” [15]. Quy định doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam Doanh nghiệp siêu Doanh nghiệp Quy mô Doanh nghiệp nhỏ nhỏ vừa Tổng Tổng Số Số lao Tổng Số lao Khu vực nguồn nguồn lao động nguồn vốn động vốn vốn động Từ Từ trên I. Nông, lâm Từ trên trên Từ trên 3 10 nghiệp, thủy 20 tỷ 100 3 tỷ đồng 10 người tỷ đồng người sản, công đồng đến người trở xuống trở xuống đến 20 tỷ đến nghiệp và xây 100 tỷ đến đồng 100 dựng đồng 200 người người Từ Từ trên Từ trên trên II.Thương Từ trên 3 10 50 tỷ 50 3 tỷ đồng 10 người mại và dịch tỷ đồng trở người đồng đến người trở xuống trở xuống vụ xuống đến 50 100 tỷ đến người đồng 100 người (Nguồn: Văn phòng Quốc hội (2020) 8 Theo định nghĩa trên, DNNVV phải đáp ứng các tiêu chí sau: - Về mặt pháp l : DNNVV phải là cơ sở kinh doanh đã kinh doanh theo qui định của pháp luật.
-Về quy mô: được phân thành 3 cấp: doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ, vừa theoqui mô tổng nguồn vốn - Về tổng nguồn vốn và số lượng lao động trung bình hàng năm: phụ thuộc vào qui mô và loại hình doanh nghiệp. Đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa Những đặc điểm cơ bản của DNNVV bao gồm : Thứ nhất, DNNVV có quy mô vốn hạn chế, đa phần là vốn tự có và khả năng tiếp cận vốn tín dụng thấp. Để bắt đầu hoạt động sản xuất kinh doanh, DNNVV chỉ cần một lượng vốn đầu tư ban đầu không lớn, diện tích mặt bằng nhỏ hoặc có thể tận dụng chính nhà cửa của chủ sở hữu,… Điều này tạo cho DNNVV lợi thế hơn so với doanh nghiệp lớn như thành lập và gia nhập thị trường dễ dàng, vốn đầu tư được thu hồi nhanh do lĩnh vực DNNVV tham gia có chu kỳ sản xuất ngắn, không đỏi hỏi đầu tư trang thiết bị công nghệ nhiều,… Nhưng do hạn chế về quy mô vốn nên DNNVV có những bất lợi trong hoạt động sản xuất kinh doanh và trong việc tiếp cận vốn tín dụng. Với số vốn đầu tư ban đầu hạn chế, trong khi nhu cầu mở rộng sản xuất kinh doanh, yêu cầu đổi mới nâng cấp thiết bị, đầu tư công nghệ mới ngày càng tăng dẫn đến việc DNNVV dễ lâm vào tình trạng thiếu vốn, trong khi đó việc tiếp cận vốn tín dụng thường gặp phải rất nhiều khó khăn do DNNVV không đủ tài sản thế chấp khi vay vốn, trongkhi đó khả năng lập hồ sơ vay vốn, kế hoạch sản xuất kinh doanh của DNNVV lại hạn chế,… Thứ hai, DNNVV có lĩnh vực đầu tư sản xuất kinh doanh đa dạng.
Những lợi thế của DNNVV như quy mô, tiềm lực tài chính nhỏ, linh hoạt trong kinh doanh, dễ thành lập, dễ ra nhập thị trường, khả năng thu hồi vốn nhanh,… đã tạo điều kiện cho các DNNVV hoạt động dưới nhiều loại hình doanh nghiệp, trên nhiều lĩnh vực, ngành nghề khác nhau. Nhờ quy mô vốn đầu tư nhỏ, khai thác tốt nguồn lao động và nguyên vật liệu sẵn có tại địa phương, nắm bắt và 9 đáp ứng nhanh chóng được những thay đổi của thị trường nên DNNVV ngày càng đóng vai trò quan trọng trong ổn định đời sống xã hội, thúc đẩy và phát triển kinh tế của địa phương và đất nước. Thứ ba, DNNVV có số lượng lao động hạn chế, lao động có trình độ và tay nghề cao không nhiều. DNNVV sử dụng số lao động hạn chế, lao động thường có trình độ tay nghề không cao, chủ yếu là lao động phổ thông.
Do hạn chế về nguồn tài chính, môi trường làm việc cũng như chế độ đãi ngộ nên DNNVV khó tuyển dụng được lao động có trình độ và tay nghề cao. Người lao động được đào tạo ở DNNVV chiếm một tỷ lệ không lớn. Ngoài ra, cơ hội thăng tiến cũng như tín ổn định và chế độ phúc lợi thấp khi làm việc ở DNNVV đã không đủ sức thu hút đối với những lao động có trình độ chuyên môn, năng lực và tay nghề cao. Thực tế này dẫn đến tình trạng DNNVV gặp nhiều khó khăn, đặc biệt trong quản trị tài chính và xây dựng, quản l , thực hiện các dự án đầu tư/phương án sản xuất kinh doanh.
Thứ tư, đội ngũ lãnh đạo doanh nghiệp năng động nhưng năng lực quản trị chưa cao. Bộ máy quản lý điều hành doanh nghiệp khá tinh gọn. DNNVV có đặc điểm là số lượng lao động hạn chế, công tác quản l thường do chủ doanh nghiệp trực tiếp thực hiện, xử l công việc hầu như được chuyển thẳng từ chủ doanh nghiệp đến từng nhân viên mà không cần qua nhiều cấp quản l trung gian. Điều này làm hiệu quả quản trị điều hành của DNNVV tăng lên, tiết kiệm được chi phí quản l , nhanh chóng.
Tuy nhiên, việc phân công công việc trong DNNVV thường có hiện tượng đa nhiệm, mức độ chuyên môn hóa không cao, người lao động phải đảm nhận nhiều công việc chuyên môn khác nhau. Thứ năm, DNNVV có khả năng tiếp cận thị trường thấp, gặp nhiều khó khăn khi hội nhập kinh tế quốc tế. DNNVV thường không dành kinh phí lớn cho hoạt động marketing nên việc xây dựng và định vị thương hiệu trên thị trường còn nhiều hạn chế, khó vươn ra thịtrường quốc tế. Thị phần của doanh nghiệp nhỏ và vừa không lớn, khả năng chi phối thị trường không cao.
Thị trường thường phản ứng ít quyết liệt, thậm chí không có phản ứng trước những thay đổi chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp nhỏ và vừa. Hoạt động cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa của ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm hoạt động cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa của ngân hàng thương mại Theo Nguyễn Văn Tiến (2013): “NHTM là một tổ chức kinh tế hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ, cung cấp các dịch vụ tài chính đa dạng, nhưng nghiệp vụ cơ bản là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng các dịch vụ ngân hàng” [18] Theo Luật các tổ chức tín dụng số 17/2017/QH14 đã được Quốc hội thông qua ngày 20 tháng 11 năm 2017: “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi” (Quốc hội, 2017). Như vậy, theo tác giả: Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời hạn nhất định theo giá thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả gốc và lãi.
Thời hạn nhất định ở đây chính là thời hạn cho vay Cho vay là quyền của NHTM với tư cách là người cho vay (chủ nợ) yêu cầu khách hàng của mình - người đi vay muốn vay được vốn phải tuân thủ những điều kiện nhất định, những điều kiện này là cơ sở ràng buộc về mặt pháp l đảm bảo cho người cho vay có thể thu hồi được vốn (gốc và lãi) sau một thời gian nhất định. Để thu hồi được vốn, các ngân hàng có quyền yêu cầu người đi vay đáp ứng những điều kiện vay cụ thể dựa trên cơ sở mức độ tin tưởng, tín nhiệm lẫn nhau giữa ngân hàng và khách hàng. NHTM có thể tiến hành cho vay với nhiều đối tượng khách hàng như các cá nhân, các doanh nghiệp… Tuy nhiên, tùy theo đối tượng vay vốn, khái niệm cho vay có thể được hiểu theo những khía cạnh khác nhau. Hiện nay, trong các đối tượng khách hàng của NHTM thì khách hàng DNNVV là đối tượng khách hàng có nhiều tiềm năng nhất.
Ưu điểm của khách hàng DNNVV không chỉ là sự gia tăng ngày càng lớn về số lượng mà còn là những đóng góp cho sự phát triển kinh tế và tăng thu nhập dân cư. Từ những phân tích trên, trong phạm vi luận văn có thể hiều cho vay khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa là hình thức cho vay trong đó ngân hàng thương 11 mại cho doanh nghiệp nhỏ và vừa sử dụng một khoản tiền để dùng vào mục đích xác định, trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi. Phân loại hoạt động cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa Hoạt động cho vay DNNVV thường được chia thành các loại sau: - Căn cứ vào thời hạn cho vay + Cho vay ngắn hạn tài trợ cho kinh doanh Tín dụng ngắn hạn là hình thức cho vay nhằm đáp ứng nhu cầu này, tín dụng ngắn hạn cung cấp nguồn vốn để doanh nghiệp mua vật tư, hàng hóa và các khoản chi phí để thực hiện các phương án sản xuất kinh doanh vơi thời hạn thu hồi vốn của phương án sản xuất kinh doanh và khả năng trả nợ của khách hàng nhưng tối đa không quá 12 tháng. + Cho vay trung hạn: là các khoản cho vay có thời hạn vay từ trên 12 tháng đến 60 tháng Cho vay trung hạn chủ yếu được sử dụng để mua sắm tài sản cố định, máy móc thiết bị, nhằm mở rộng, cải tạo, đổi mới kĩ thuật, ứng dụng khoa học công nghệ mới.
Tín dụng trung hạn còn nhằm đầu tư xây dựng các dự án mới có quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh. + Cho vay dài hạn: là các khoản vay có thời hạn từ 60 tháng trở lên.