CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM 1. KHÁI QUÁT VỀ VIỆC LÀM VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG 1. Một số khái niệm về lao động, việc làm a. Khái niệm lao động và sức lao động Lao động là hoạt động có mục đích của con người, thông qua hoạt động đó con người tác động vào giới tự nhiên, cải biến chúng thành những vật có ích nhằm đáp ứng nhu cầu nào đó của con người[2, tr10].
Hoạt động lao động có 3 đặc trưng cơ bản: Thứ nhất, xét về tính chất, hoạt động lao động phải có mục đích (có ý thức) của con người. Thứ hai, xét về mục đích, hoạt động đó phải tạo ra sản phẩm nhằm thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người. Thứ ba, xét về mặt nội dung, hoạt động của con người phải là sự tác động vào tự nhiên làm biến đổi tự nhiên và xã hội nhằm tạo ra của cải vật chất và tinh thần phục vụ lợi ích của con người. Ngày nay, hoạt động lao động được quan niệm không chỉ là khai thác tự nhiên mà còn song song với nó là sự bồi đắp, bảo tồn tự nhiên.
- Sức lao động là phạm trù chỉ khả năng lao động của con người là tổng hợp thể lực và trí lực của con người, được con người vận dụng trong quá trình lao động. Mác, sức lao động hay năng lực lao động là toàn bộ những năng lực thể chất và tinh thần tồn tại trong một cơ thể, trong một con người đang sống và được người đó đem ra vận dụng mỗi khi sản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó.[2, tr10] Như vậy khả năng lao động của con người hay sức lao động của con người được thể hiện: 8 Khả năng về thể chất (thể lực): Chỉ rõ khả năng làm việc chân tay, được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu như chiều cao, cân nặng, sức mạnh cơ bắp, thị lực, thính lực, … Khả năng về tinh thần (trí lực): Chỉ rõ khả năng làm việc trí tuệ, được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu về trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn, trình độ ký thuật, kinh nhiệm công tác,… Ngày nay không chỉ dừng lại ở hai chỉ tiêu trên mà người ta còn quan tâm nhiều đến năng lực phẩm chất của người lao động mà người ta gọi đó là tâm lực. Vậy, năng lực phẩm chất là khái niệm chỉ rõ tính năng động, sáng tạo, thái độ làm việc, lòng tự tin, khả năng thích ứng, dễ chuyển đổi, làm việc có tinh thần trách nhiệm với các cá nhân, nhóm và tổ chức v.v… Khi con người tham gia vào quá trình sản xuất thì con người đó là con người lao động. Như vậy, lao động là hoạt động có mục đích của con người, thông qua hoạt động đó con người tác động vào giới tự nhiên, cải biến chúng thành những vật có ích nhằm đáp ứng nhu cầu nào đó của con người.
Hoạt động lao động có 3 đặc trưng cơ bản: Thứ nhất, xét về tính chất, hoạt động lao động phải có mục đích (có ý thức) của con người. Đặc trưng này chỉ ra sự khác biệt giữa hoạt động lao động của con người và hoạt động có tính bản năng của con vật. Con vật duy trì sự tồn tại của mình dựa vào những sản vật có sẵn trong tự nhiên, còn con người dùng sức lao động của bản thân để tạo ra những sản phẩm cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của mình cũng như của cộng đồng xã hội. Thứ hai, xét về mục đích, hoạt động đó phải tạo ra sản phẩm nhằm thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người.
Đề cập đến điều này là nhằm phân biệt với những hoạt động có mục đích không nhằm thỏa mãn nhu cầu chính đáng của con người, không nhằm phục vụ cho con người, cho sự tiến bộ của xã hội. Những hoạt động đó không thể gọi là hoạt động lao động. 9 Thứ ba, xét về mặt nội dung, hoạt động của con người phải là sự tác động vào tự nhiên làm biến đổi tự nhiên và xã hội nhằm tạo ra của cải vật chất và tinh thần phục vụ lợi ích của con người. Đề cập đến điều này là để phân biệt với các hoạt động không tạo ra sản phẩm (vật chất và tinh thần), các hoạt động mang tính chất phá hoại tự nhiên.
Những hoạt động đó không thể gọi là hoạt động lao động. Ngày nay, hoạt động lao động được quan niệm không chỉ là khai thác tự nhiên mà còn song song với nó là sự bồi đắp, bảo tồn tự nhiên. Đến đây có thể thấy được khi nói đến sức lao động là nói đến khả năng lao động, còn nói đên lao động là nói đến hành động đang diễn ra. Như vậy, để biến khả năng lao động (sức lao động) thành hiện thực (lao động) cần phải có những điều kiện nhất định (điều kiện vật chất, điều kiện con người, môi trường xã hội v.v…), mà thiếu những điều kiện này, quá trình lao động không thể diễn ra được.
Khái niệm người lao động Theo Quy định tại Điều 6 của Bộ Luật Lao động Việt Nam đã sửa đổi bổ sung thì người lao động được hiểu là: “Người lao động là người ít nhất đủ 15 tuổi, có khả năng lao động và có giao kết hợp đồng lao động” và Điều 145 “Người lao động được hưởng chế độ hưu trí hằng tháng khi có đủ điều kiện về tuổi đời và thời gian đóng bảo hiểm xã hội như sau: năm đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi …” [1, tr.58] Theo Quy định trên, độ tuổi lao động của Người Việt Nam được xác định như sau: + Nam từ đủ15 tuổi đến 60 tuổi. + Nữ từ đủ 15 tuổi đến 55 tuổi. Khái niệm về việc làm Đứng trên góc độ nghiên cứu khác nhau, người ta đã đưa ra nhiều định nghĩa nhằm làm sáng tỏ: “Việc làm là gì?”. Và ở nhiều quốc gia khác nhau, 10 do ảnh hưởng của nhiều yếu tố (như điều kiện kinh tế, chính trị, luật pháp,.)người ta quan niệm về việc làm cũng khác nhau.
Chính vì thế mà không có một định nghĩa chung và khái quát về việc làm. Theo Bộ luật Lao động nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trong Bộ Luật này, tại Điều 13, Chương II, ghi rõ: “Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm” [1,tr14]. Quan niệm này cho thấy khái niệm việc làm bao hàm các nội dung: là hoạt động lao động của con người; hoạt động lao động đó nhằm mục đích là tạo ra thu nhập và không bị pháp luật cấm. Trên thực tế việc làm nêu trên được thể hiện dưới 3 hình thức: Một là, làm công việc để nhận tiền lương, tiền công hoặc hiện vật cho công việc đó.
Hai là, làm công việc để thu lợi cho bản thân mà bản thân lại có quyền sử dụng hoặc quyển sở hữu (một phần hay toàn bộ ) tư liệu sản xuất để tiến hành công việc đó. Ba là, làm các công việc cho hộ gia đình mình nhưng không được trả thù lao dưới hình thức tiền lương, tiền công cho công việc đó.Bao gồm sản xuất nông nghiệp, hoạt động kinh tế phi nông nghiệp do chủ hộ hoặc một thành viên khác có quyền sử dụng, sở hữu hoặc quản lý. Khái niệm trên nói chung khá bao quát, nhưng có thể thấy rõ hai hạn chế cơ bản: Thứ nhất, hoạt động nội trợ không được coi là việc làm trong khi đó hoạt động nội trợ tạo ra các sản phẩm phi lợi ích vật chất và gián tiếp tạo ra lợi ích vật chất không hề nhỏ. Thứ hai, khó có thể so sánh tỉ lệ người có việc làm giữa các quốc gia với nhau vì quan niệm về việc làm giữa các quốc gia có thể khác nhau phụ thuộc vào luật pháp, phong tục tập quán, …Vì có những nghề ở quốc gia này 11 được cho phép và được coi đó là việc làm nhưng ở quốc gia khác thì bị cấm.
Ví dụ: đánh bạc ở Việt Nam thì bị cấm nhưng ở Mỹ và Thái Lan thì được coi là một nghề, thậm chí rất phát triển vì nó thu hút khá đông tầng lớp thượng lưu. Theo giáo trình Kinh tế nguồn nhân lực của trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội thì việc làm được hiểu: “là phạm trù để chỉ trạng thái phù hợp giữa sức lao động và những điều kiện cần thiết (vốn, tư liệu sản xuất, công nghệ, …) để sử dụng sức lao động đó ”[2, tr. Sức lao động do người lao động sở hữu. Những điều kiện cần thiết như vốn, tư liệu sản xuất, công nghệ, có thể do người lao động có quyền sở hữu, sử dụng hay quản lý hoặc không.
Theo quan điểm này thì bất cứ tình huống nào xảy ra gây nên trạng thái mất cân bằng giữa sức lao động và điều kiện cần thiết đều có thể dẫn tới thiếu việc làm hay mất việc làm và tùy theo các mục đích nghiên cứu khác nhau mà người ta phân chia việc làm thành nhiều loại. Thiếu việc làm Thiếu việc làm là những người làm việc ít hơn mức mà mình mong muốn.259] Thiếu việc làm được biểu hiện dưới hai dạng, hoặc là người lao động không có đủ việclàm theo thời gian quy định trong tuần, tỏng tháng, hoặc làm những công việc có thu thập quá thấp không đảm bảo cuộc sống nên muốn làm việc thêm để có thu nhập. Người thiếu việc làm gồm những người trong khoảng thời gian xác định của cuộc điều tra có tổng số giờ làm việc nhỏ hơn số giờ quy định trong tuần, trong tháng, trong năm và có nhu cầu làm thêm giờ hoặc là người có tổng số giờ làm việc bằng số giờ quy định trong tuần, tháng, năm nhưng có thu thập quá thấp muốn làm thêm giờ. Thất nghiệp Người thất nghiệp là người hiện đang chưa có việc làm nhưng mong muốn và đang tìm việc làm.
Ngoài những người đang có việc làm và thất nghiệp, những người còn lại trong độ tuổi lao động được coi là những người không nằm trong lực lượng lao động bao gồm: người đi học, nội trợ gia đình, những người không có khả năng lao động do ốm đau bệnh tật và một bộ phận không muốn tìm việc làm với nhiều lí do khác nhau. Những khái niệm trên có tính quy ước thống kê và có thể khác nhau giữa các quốc gia Theo giáo trình Kinh tế nguồn nhân lực của trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội: “thất nghiệp là sự mất việc làm hay là sự tách rời sức lao động khỏi tư liệu sản xuất, nó gắn liền với người có khả năng lao động nhưng không được sử dụng có hiệu quả”.