Chương 1: Khái quát lý luận cơ bản về tạo động lực làm việc cho người lao động trong doanh nghiệp. Chương 2: Phương pháp nghiên cứu. Chương 3: Thực trạng tạo động lực làm việc cho người lao động tại công ty cô phần may xuất khâu Đại Đồng. Chương 4: Đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện tạo động lực làm việc cho người lao động tại công ty cô phần may xuất khâu Đại Đồng.
CHUONG 1: KHÁI QUÁT LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 1.1 Một số khái niệm cơ bản.1 Người lao động trong doanh nghiệp Theo Bộ Luật Lao Động 2019, người lao động là người làm việc cho người sử dụng lao động theo một thỏa thuận, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành và giám sát của người sử dụng lao động. Mặt khác, Bộ Luật Lao Động 2012 định nghĩa người lao động là người làm việc theo “hợp đồng lao động”. Do đó, theo Bộ Luật Lao Động 2012, một cá nhân làm việc cho công ty theo hợp đồng không có tên là “hợp đồng lao động” có thể lập luận răng mình không phải là người lao động của công ty. Tuy nhiên, lập luận như vậy có thê không áp dụng được theo Bộ Luật Lao Động 2019 nếu có thê xác định được răng có sự thỏa thuận giữa công ty và cá nhân và cá nhân đó bị công ty quản lý, điều hành và giám sát.
Từ định nghĩa trên, có thê hiêu “Người lao động trong doanh nghiệp” là người lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp. chịu sự quản lý của chủ doanh nghiệp và pháp luật nhà nước quy định.2 Động lực và động lực làm việc Động lực là trạng thái nội tại của con người đê hướng dẫn và chỉ đạo hành vi của con người hướng tới sự thỏa mãn, đó là một chuỗi các nhu cầu, khuynh hướng, ham muốn. kích thích và khiến người đó thực hiện một hành vi nào đó một cách tích cực nhất. Người lao động trong doanh nghiệp làm việc không phải chỉ dựa vào năng lực của bản thân mà còn phải dựa trên động lực làm việc của họ, nghĩa là dựa trên sự khao khát và tự nguyện được mang hết khả năng cống hiến cho sự phát triển của doanh nghiệp, gắn bó lâu dài với doanh nghiệp và qua đó thỏa mãn được các mục tiêu cá nhân.
Có nhiều cách hiệu về động lực nói chung và động lực làm việc nói riêng của COn người: Theo Maier va Lawler (1975), động lực là sự khao khát và tự nguyện của mỗi cá nhân được kích thích bởi những công cụ phù hợp trong môi trường tô chức, doanh nghiệp. Trong mô hình về kết quả thực hiện công việc mà các tác giả này đề xuất (kết quả thực hiện công việc = khả năng x động lực) cho thay động lực có tác động rất lớn đến thực hiện công việc của mỗi cá nhân. Điều này giải thích việc tại sao có những cá nhân có trình độ chuyên môn, năng lực làm việc cao nhưng kết quả công việc lại thấp hơn kỷ vọng của tô chức, bởi người đó không có động lực làm việc, hoặc động lực làm việc yếu. Theo tác giả Vũ Thị Uyên (2006), động lực làm việc là sự khao khát và tự nguyện của mỗi cá nhân nhằm phát huy mọi nỗ lực đê hướng bản thân đạt được mục tiêu của cá nhân và mục tiêu của tô chức.
Tác giả cho răng, động lực làm việc của cá nhân không tự nhiên xuất hiện mà do sự vận động đồng thời của các nguồn lực thuộc chính bản thân người lao động và trong môi trường sống và làm việc của họ tạo ra. Chính sự ủng hộ và tạo điều kiện của tô chức, doanh nghiệp giúp người lao động mong muốn, tự nguyện công hiến cho mục tiêu chung và từ đó giúp họ đạt được mục tiêu của cá nhân. Tóm lại, động lực làm việc là những mong muốn, khao khát của người lao động được kích thích để họ nỗ lực hoạt động nhằm đạt được những mục tiêu nhất định của cá nhân và tô chức. Khái niệm cho thấy: Một là, động lực làm việc gan liền với công việc và với tô chức, đoanh nghiệp.
Mỗi người lao động khi làm việc trong tô chức, doanh nghiệp đều cần phải thực hiện những công việc nhất định. Nếu không có động lực, người lao động vẫn có thể hoàn thành công việc. Tuy nhiên, khi người lao động khao khát, mong muốn, tự nguyện làm việc thì sẽ dẫn tới năng suất và hiệu quả công việc cao hơn. Hai là, bất cứ người lao động nào khi làm việc trong tô chức, doanh nghiệp đều hướng tới những mục tiêu nhất định.
Vẫn đề là để người lao động có thê tự nguyện theo các định hướng của doanh nghiệp thì cần phải cho họ thay rõ mục tiêu, lợi ích của bản thân chỉ có thê đạt được khi mục tiêu, lợi ích của doanh nghiệp đạt được, có nghĩa là phải hướng mục tiêu. lợi ích của cá nhân theo định hướng mục tiêu của tô chức. Ba là, động lực làm việc khác với động cơ cá nhân. Đây là hai phạm trù gây nhiều tranh cãi trong giới nghiên cứu và thường bị nhằm lẫn trong giới quản trị doanh nghiệp.
Sự nhằm lẫn này có thê tạo ra sai sót khi tìm hiểu cơ sở hình thành đề đề xuất và ra quyết định vẻ biện pháp gây ảnh hưởng của nhà lãnh đạo.3 Tạo động lực làm việc cho người lao động trong doanh nghiệp Mỗi người lao động trong tô chức, doanh nghiệp đều có những nhu cầu riêng của mình. Từ những nhu cầu của bản thân, trong mỗi người sẽ xuất hiện những mong muốn, thúc đây họ phải hành động (Làm gì? Làm như thế nào?) đê đạt được mục tiêu (làm giảm nhẹ nhu cầu, giảm bớt sự thôi thúc). Như vậy, có thể thấy động cơ của con người mang tính chủ quan, tự thân và do quy luật tự nhiên (sự sinh tồn, phát triên của con người) chi phối và quy định. Song vấn đề là ở chỗ người lao động luôn hành động có ý thức và tình cảm, có lý trí và mục tiêu, chịu sự tác động rất lớn của ngoại cảnh, của môi trường sống và làm việc, vì vậy, có thê tạo ra và phát huy động lực ở người lao động bảng việc tác động đến ý thức, tình cảm, lý trí và nhu cầu hay động cơ của họ.
Theo Nguyễn Hữu Lam (2006), tạo động lực là các biện pháp và cách ứng xử của tô chức và của nhà quản lý nhăm tạo ra sự khao khát và tự nguyện của người lao động có găng phấn đâu đề đạt được các mục tiêu của tô chức. Theo tác giá Bùi Anh Tuấn và Phạm Thúy Hương (2013), tạo động lực làm việc được hiệu là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lý tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động có động lực trong công việc. Nếu hiéu chức năng lãnh đạo trong quản trị bao gồm các hoạt động nhăm thúc đây mọi người thực hiện những công việc cần thiết để hoàn thành mục tiêu của tô chức/doanh nghiệp (Robbins và Decenzo (2004)) thì ở đây tạo động lực làm việc chính là một phần quan trọng trong lãnh đạo nhân lực, giúp khai thác một cách có hiệu quả và triệt để nhân lực của tô chức/doanh nghiệp. Theo tiếp cận của giáo trình Quản trị Nhân lực căn bản, trường Đại học Thương mại, “go động lực làm việc là quả trình xây dựng, triển khai thực hiện và đánh giả các chương trình, biện pháp tác động vào những mong muốn, khát khao của người lao động nhằm thúc đây họ làm việc để đạt được các mục tiêu của cá nhân và tổ chức, doanh nghiệp.
” Bài khóa luận của em đã tiếp cận nội dung tạo động lực làm việc cho người lao động theo giáo trình Quản trị nhân lực căn bản, trường Đại học Thương mại.2 Một số học thuyết về tạo động lực làm việc cho người lao động 1. Hoc thuyét nhu cau cia Abarham Maslow Abraham (Harold) Maslow (1908-1970) la mét nha tam ly hoc nguoi My. Năm 1943, ông đã phát trién va dua ra lý thuyết về Thang bậc nhu cầu (Hierarchy of Needs) của con người. Trong thời điểm đầu tiên của lý thuyết, Maslow đã sắp xếp các nhu cầu của con người theo Š cấp bậc.
Sau đó vào những năm cuối đời, sự phân cấp này đã được Maslow hiệu chỉnh thành 7 bậc và cuối cùng là § bậc. Tuy nhiên, cho đến ngày nay, thuyết nhu cầu của Maslow thường được các nhà kinh tế học hiện đại giới thiệu với 5 cấp bậc nhu cầu. Cụ thê như sau: Nhu cầu tự hoàn thiện Nhu cầu được tôn trọng Nhu cầu xã hội Nhu cầu an toàn Nhu cau sinh ly (Nguon: Giáo trình Quản trị nhân lực căn bản — Trường Đại học Thương mại) Hình 1.1: Tháp nhu cau cia Maslow Nhu cau sinh lý, bao gồm các nhu cầu căn bản như: thức ăn, nước uống, nghỉ ngơi, nhà ở. Cơ thể con người cần những nhu câu này đề tôn tại.
Nhu cầu an toàn, là những nhu cầu về sự an toàn thân thê và sự ôn định trong đời sông, nhu cầu tránh khỏi sự đau đớn, sự đe dọa về bệnh tật. Nhiều người thê hiện các nhu cầu an toàn của họ qua việc mong muốn có một việc làm ôn định, cùng các phúc lợi y tế và sức khoẻ, không bị thất nghiệp. được hưởng đây đủ các chế độ khi về nghỉ hưu. Nhu cầu xã hội, bản chất tự nhiên của con người là sống thành tập thê.
Mỗi người đều muốn là thành viên của một nhóm nào đó và duy trì mối quan hệ với những người khác, được chấp nhận, được yêu thương, được là thành viên của tập thé. Nhu cau được tôn trong, la nhu cầu được biêu hiện sự tự tin, sự tự trọng, nhu cầu thành đạt và sự công nhận của mọi người đối với sự thành đạt đó. Người đạt đến nhu cầu này thường tìm cơ hội dé được thăng chức, có uy tín, dia vi. qua dé khăng định gia tri va tai nang cua minh.
Học thuyết hai nhân tổ của Federick Her:berg Frederick Herzberg (1923-2000) là nhà tâm lý học người Mỹ. Thuyết hai nhân tổ được F. Herzberg khởi xướng năm 1959: ông đã tiến hành phỏng vấn 203 nhân viên kế toán và kỹ sư tại Mỹ (việc lựa chọn hai đối tượng trên đề phỏng vấn được lý giải bởi tầm quan trọng của các nghề này trong hoạt động kinh doanh ở Mỹ) và ông đưa ra kết luận răng "Đối nghịch với bất mãn không phải là thỏa mãn mà là không bát mãn và đối nghịch với thỏa mãn không phải là bất mãn mà là không thỏa mãn".