Chương 1: Cơ sở lý luận vấn đề xuất khẩu thủy sản. Chương 2: Thực trạng xuất khẩu Surimi tại Công ty Cổ phần thủy sản và Xuất nhập khẩu Côn Đảo. Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hoạt động xuất khẩu Surimi của Công ty Cổ phần Thủy sản và xuất nhập khẩu Côn Đảo. GVHD Trương Quang Dũng SV Hoàng Thị Ánh Hằng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VẤN ĐỀ XUẤT KHẨU THỦY SẢN 1.1 Những vấn đề chung về xuất khẩu (Export): 1.1 Khái niệm: Trong nền kinh tế hội nhập như hiện nay, các quốc gia ngày càng tăng cường mở rộng mối quan hệ với nhau cả về chiều rộng lẫn chiều sâu.
Trong mối quan hệ đó nảy sinh các hoạt động từ đầu tư vốn, xuất nhập khẩu lao động, chuyển giao công nghệ, cho đến xuất nhập khẩu hàng hóa,. Có thể nói, xuất nhập khẩu hàng hóa là bộ phận chủ yếu của thương mại quốc tế. Đối với nước ta, một nền kinh tế đang phát triển thì thương mại quốc tế không chỉ là xu hướng tất yếu khách quan của thời đại, mà còn là cơ hội để tranh thủ nguồn lực bên ngoài góp phần phát triển kinh tế trong nước nhanh chóng, bền vững và có hiệu quả. Một số thuật ngữ liên quan đến xuất khẩu hàng hóa như sau: - Xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hóa được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào các khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật (Theo Điều 28 - Luật thương mại 2005).
- Kim ngạch xuất khẩu là số tiền thu về từ hoạt động xuất khẩu hàng hóa hay dịch vụ trong một thời gian nhất định nào đó.2 Vai trò và tác động của xuất khẩu đối với nền kinh tế: Bất kỳ quốc gia nào trên thế giới cũng hi vọng xuất khẩu hàng hóa càng nhiều càng tốt bởi vì: - Xuất khẩu thu về một lượng lớn ngoại tệ. Lượng ngoại tệ này chính là nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu. Góp phần chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển, tạo điều kiện cho các ngành khác cũng phát triển theo. - Xuất khẩu tích cực giải quyết công ăn việc làm và cải thiện đời sống người dân.
Xuất khẩu tăng GDP, làm gia tăng nguồn thu nhập quốc dân, từ đó có tác động làm tăng tiêu dùng nội địa. - Xuất khẩu giúp phát huy lợi thế trong nước, mở rộng thị trường, đưa hàng hóa nội địa đến tận tay người tiêu dùng trên toàn thế giới. GVHD Trương Quang Dũng SV Hoàng Thị Ánh Hằng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2 Những vấn đề chung về thủy sản: 1.1 Khái niệm: Từ một lĩnh vực sản xuất nhỏ bé, nghèo nàn và lạc hậu; ngành thủy sản đã trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn của nước ta, có tốc độ tăng trưởng cao và có tỷ trọng trong GDP ngày càng lớn. Để tìm hiểu về ngành thủy sản, cần nghiên cứu một số thuật ngữ như sau: - Thủy sản là thuật ngữ chỉ chung về những nguồn lợi, sản vật đem lại cho con người từ môi trường nước và được con người khai thác, nuôi trồng thu hoạch sử dụng làm thực phẩm, nguyên liệu hoặc bày bán trên thị trường.
- Ngành thủy sản là một bộ phận của nông nghiệp. Ngành thủy sản sản xuất các sản phẩm từ các loại sinh vật trong môi trường nước nhằm phục vụ nhu cầu của con người. Hoạt động thủy sản bao gồm việc nuôi trồng, khai thác, chế biến, bảo quản, mua bán, xuất nhập khẩu các sản phẩm thủy sản. - Nuôi trồng thủy sản: là nuôi các thủy sinh vật trong môi trường nước ngọt và lợ/mặn, bao gồm áp dụng các kỹ thuật vào quy trình nuôi nhằm nâng cao năng suất, thuộc sở hữu cá nhân hay tập thể.
Nhằm mục đích phối hợp, liên kết hoạt động của các doanh nghiệp thủy sản nước ta giúp nhau nâng cao giá trị, chất lượng và khả năng cạnh tranh trên thị trường, Chính Phủ đã cho thành lập các tổ chức quản lý phi lợi nhuận như: - Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP) ra đời ngày 12/06/1998. Đây là tổ chức tự nguyện của các doanh nghiệp hoạt động chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam, đại diện và bảo vệ lợi ích hợp phát, chính đáng của các hội viên. - Cục quản lý chất lượng nông lâm sản và thủy sản là cơ quan trực thuộc Bộ NN&PTNT (NAFIQAD) có chức năng tham mưu giúp Bộ trưởng quản lý nhà nước chuyên ngành và thực thi nhiệm vụ quản lý nhà nước trong lĩnh vực chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm nông sản, lâm sản, thủy sản và muối thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ.2 Vai trò của ngành thủy sản đối với nền kinh tế Việt Nam. Nền kinh tế Việt Nam có cái nôi lâu đời từ nông nghiệp, và cho đến thời điểm hiện tại thì nông nghiệp vẫn chiếm một tỷ trọng lớn là 20,7% GDP của nước ta năm 2009.
Do đó, thủy sản có một vai trò quan trọng không chỉ về kinh tế mà còn là thói quen lao động của người nông dân. Một số vai trò của ngành thủy sản đối với nền kinh tế nước ta như sau: - Xuất khẩu thủy sản đem về một lượng lớn ngoại tệ cho đất nước. Thủy sản luôn nằm trong top những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của nước ta, với tốc độ tăng trưởng nhanh GVHD Trương Quang Dũng SV Hoàng Thị Ánh Hằng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Theo số liệu của Tổng cục thống kê, GDP ngành thủy sản giai đoạn 1995-2003 tăng từ 6.664 tỷ đồng lên 24.Năm 2010, xuất khẩu thủy sản cả nước đạt mức kỷ lục từ trước đến nay với 1,353 triệu tấn, trị giá 5,034 tỷ USD tăng 11,3% về lượng và 18,4% về giá trị so với năm 2009.
Tuy nhiên kỷ lục này đã được thay thế bằng một kỷ lục mới khi năm 2011, kim ngạch xuất khẩu đạt 6,1 tỷ USD, tăng ấn tượng 21% và đưa thủy sản trở thành một trong top năm ngành có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất.1: Bảng 10 mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam năm 2010 STT Mặt hàng Kim ngạch (1000 USD) 1 Dệt may 11172 2 Giầy dép 5079 3 Thủy sản 4953 4 Dầu thô 4944 5 Điện tử, máy tính, linh kiện 3558 6 Gỗ và sản phẩm gỗ 3408 7 Gạo 3212 8 Máy, thiết bị, dụng cụ, phương tiện khác 3047 9 Đá quý, kim loại quý 2855 10 Cao su 2376 Nguồn Tổng Cục Thống kê - Xuất khẩu thủy sản nâng cao vị thế của nước ta trên thị trường quốc tế. Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu ngành thủy sản Việt Nam nhanh nhất thế giới đạt 18%/năm giai đoạn 1998-2008. Năm 2008, tổng sản lượng thủy sản của Việt Nam đạt 4,6 triệu tấn, đưa Việt Nam lên vị trí thứ 3 về sản lượng nuôi trồng thủy sản và đứng thứ 13 về sản lượng khai thác thủy sản trên thế giới. Cũng trong năm 2008, Việt Nam xuất khẩu được trên 4,5 tỷ USD hàng thủy sản, đứng thứ 6 về giá trị xuất khẩu thủy sản.
- Bên cạnh việc xuất khẩu, ngành thủy sản còn cung cấp sản phẩm cho thị trường trong nước, đảm bảo an ninh lương thực quốc gia. Thực phẩm từ thủy sản ngày càng đa dạng và được người tiêu dùng nội địa đặc biệt yêu thích và ủng hộ, nhất là trong điều kiện hiện nay khi mà các thực phẩm khác như: thịt heo, thịt gà,… bị dư luận quay lưng, phát hiện chứa những chất không an toàn đối với sức khỏe con người thì các thực phẩm từ thủy sản lại càng được người tiêu dùng quan tâm nhiều hơn. GVHD Trương Quang Dũng SV Hoàng Thị Ánh Hằng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 - Xuất khẩu thủy sản phát triển góp phần kích thích các ngành nghề khác liên quan phát triển theo như ngành vận tải, ngành viễn thông, viện nghiên cứu thủy sản, ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi thủy sản,… - Đặc thù của ngành thủy sản cần một lượng lớn nguồn lao động phổ thông, nên việc phát triển ngành thủy sản sẽ tạo công ăn việc làm cho hàng vạn lao động, góp phần ổn định đời sống kinh tế - xã hội.3 Những lợi thế phát triển ngành thủy sản ở nƣớc ta.1 Về điều kiện tự nhiên. Nước ta có những điều kiện tự nhiên thuận lợi trong việc nuôi trồng thủy hải sản như: diện tích mặt nước, yếu tố thời tiết – khí hậu, thủy triều… - Diện tích mặt nước: Với đường bờ biển dài 3.260 km từ Móng Cái (Quảng Ninh) đến Hà Tiên (Kiên Giang), 112 cửa sông, trong đó 47 cửa có độ cao từ 1,6 – 3,0m để đưa tàu cá có công suất 140cv ra vào khi có thủy triều và hơn 1 triệu km2 diện tích mặt nước biển cùng với hệ thống sông ngòi, đầm phá dày đặc trong đất liền là điều kiện thuận lợi cho việc nuôi trồng cả cá nước mặn, nước lợ và nước ngọt.
Trữ lượng thủy hải sản của nước ta vì thế mà rất dồi dào và ổn định, ước tính có khoảng 4,2 triệu tấn và nguồn tái tạo là khoảng 1,73 triệu tấn hàng năm. Chỉ tính riêng đồng bằng sông Cửu Long đã có tới 1,2 triệu ha diện tích nuôi trồng thủy sản, tại đây chủ yếu nuôi trồng và khai thác thủy sản nước lợ như: tôm, cá tra, cá basa, và các loài cá đen. Theo nghiên cứu của các nhà khoa học về tiềm năng sinh vật biển tại các vùng biển Việt Nam, đã xác định được danh mục gần 12.000 loài sinh vật biển bao gồm cả động và thực vật. Nguồn lợi hải sản của nước ta phong phú và đa dạng gồm khoảng trên 2.000 loài động vật đáy, 653 loài tảo, 5 loài rùa và 12 loài rắn biển Tổng lượng nước sông ngòi của nước ta là 893 tỷ mét khối/năm, phần nước sinh ra trên lãnh thổ nước ta khoảng 338 tỷ mét khối/năm (chiếm 40,3%); còn phần từ nước ngoài chảy vào là 501 tỷ mét khối/năm (chiếm 59,7%).
Riêng hệ thống sông Cửu Long đã chiếm đến 451 tỷ mét khối/năm. Trong đó, diện tích giành cho nuôi trồng thủy sản cụ thể như sau: mặt nước ngọt ao hồ: 1 triệu ha; mặt nước lợ: 400.000 ha; mặt nước sông ngòi: 1. - Yếu tố thủy triều: là hiện tượng nước biển hay nước sông lên xuống trong ngày, cũng là một yếu tố tác động đến khả năng sinh tồn của thủy hải sản. + Vùng Vịnh Bắc Bộ: nhật triều thuần nhất với biên độ 3,2 – 3,6m.
Thủy triều lên đưa nước biển lấn sâu vào các cửa sông tạo nên hệ nước lợ với hệ sinh thái đa dạng, giàu dinh GVHD Trương Quang Dũng SV Hoàng Thị Ánh Hằng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.