MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Vốn là yếu tố quan trọng đầu tiên cần thiết cho công cuộc phát triển kinh tế nông thôn. Muốn đẩy mạnh phát triển kinh tế nông thôn đầu tiên cần phải có vốn. Vốn trong phát triển nông thôn là tiền đầu tư hoặc cho thuê các yếu tố nguồn lực trong phát triển nông thôn.
Cơ chế hỗ trợ nguồn vốn cho vay trong lĩnh vực nông nghiệp nông thôn chưa hoàn thiện; quy mô nguồn vốn cho vay lĩnh vực nông nghiệp nông thôn còn thấp so với nhu cầu thực tế. Khách hàng trong lĩnh vực nông nghiệp nông thôn gặp khó khăn trong tiếp cận vốn vay ngân hàng bởi một số quy định của cơ chế tín dụng. Trong Nghị định 41/NĐ-CP, sau này là Nghị định 55/NĐ-CP của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp nông thôn quy định các khách hàng lĩnh vực nông nghiệp nông thôn có thể được vay vốn tại các TCTD không cần tài sản đảm bảo, nhưng lại quy định thêm các đối tượng này cần phải nộp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khi làm thủ tục vay vốn, nghĩa là đối tượng khách hàng muốn được vay vốn vẫn phải có tài sản đảm bảo. Rủi ro trong quá trình cấp tín dụng còn cao, một số TCTD còn quan ngại cho vay lĩnh vực nông nghiệp nông thôn.
Do đây là khu vực có khả năng sinh lời thấp, ẩn chứa nhiều rủi ro trong kinh doanh, các phương án sản xuất kinh doanh chưa hiệu quả nên các TCTD gặp nhiều khó khăn khi xét duyệt cho vay. Hơn nữa, các tài sản đảm bảo khoản vay là các tài sản ruộng đất, các vấn đề về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, phát mại tài sản khi nợ xấu phát sinh cũng khiến các ngân hàng gặp nhiều rắc rối. Các món vay cho lĩnh vực này thường là nhỏ lẻ, chi phí hoạt động tín dụng của TCTD sẽ cao. Do đó, các TCTD thường không “mặn mà” cấp tín h 2 dụng trong nông nghiệp nông thôn, mà chủ yếu chỉ tập trung cho vay vào giai đoạn giữa và cuối của chu kỳ sản xuất kinh doanh (khâu thu mua, chế biến và tiêu thụ sản phẩm).
Nhà nước chưa hình thành hệ thống tín dụng quy mô nhỏ chuyên nghiệp cung ứng cho nông nghiệp nông thôn. Các sản phẩm tín dụng cung ứng của các TCTD còn đơn điệu, chủ yếu cho vay theo nhóm, cho vay hạn mức. Vì vậy tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Thực trạng và giải pháp tăng cường tiếp cận các khoản vốn vay của các hộ trồng quế trên địa bà xã Quy Mông, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái”. Mục tiêu nghiên cứu 1.
Mục tiêu tổng quát Nghiên cứu thực trạng tiếp cận vốn vay của các hộ gia đình trồng quế trên địa bàn xã. Từ đó đưa ra các giải pháp tăng cường tiếp cận các khoản vốn vay của hộ gia đình để phát triển sản xuất Quế trên địa bàn xã Quy Mông, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái. Mục tiêu cụ thể - Tìm hiểu điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của địa phương. - Phân tích tình hình tiếp cận và sử dụng vốn vay từ các nguồn vốn tín dụng của các hộ trồng Quế trên địa bàn xã Quy Mông, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái.
- Đánh giá những thuận lợi và khó khăn của các hộ trồng Quế trong việc tiếp cận các khoản vốn vay trên địa bàn xã Quy Mông, huyện Trấn Yên, Tỉnh Yên Bái. - Đề xuất giải pháp tăng cường tiếp cận các nguồn vốn và sử dụng hiệu quả vốn tín dụng góp phần phát triển cây Quế nói riêng và phát triển kinh tế nông hộ nói chung tại xã Quy Mông, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái. Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu 1. Ý nghĩa học tập và nghiên cứu khoa học - Đề tài được thực hiện là cơ sở giúp sinh viên củng cố kiến thức đã học, rèn luyện kỹ năng, phương pháp nghiên cứu khoa học, vận dụng các kiến thức lý thuyết áp dụng vào thực tế.
Đây là bước đầu giúp sinh viên tiếp cận với thực tế sản xuất và giúp tích lũy kinh nghiệm phục vụ cho công việc sau này. Đề tài cũng là tài liệu tham khảo cho các sinh viên khóa sau. Ý nghĩa thực tiễn - Đánh giá tầm quan trọng của vốn vay trong việc phát triển cây Quế, phát triển kinh tế nông hộ và phát triển nông thôn. Đồng thời cũng giúp nắm bắt được những tồn tại, khó khăn, trở ngại trong việc đưa vốn vay đến tay người nông dân, sử dụng vốn có hiệu quả.
Từ đó có những biện pháp điều chỉnh trong khâu huy động vốn, tích lũy, cho vay và sử dụng có hiệu quả. Khi đề tài được hoàn thành sẽ là tài liệu tham khảo cho các cán bộ Ngân hàng Chính sách xã hội, các hộ và các cơ quan, tổ chức địa phương. Đây là tài liệu quan trọng trong phát triển tín dụng nông thôn. Những đóng góp mới của đề tài - Thấy được hiệu quả vốn vay của ngân hàng trong phát triển sản xuất quế.
- Đánh giá được thuận lợi khó khăn của việc vay vốn và sử dụng vốn vay của các hộ trồng quế từ đó đề xuất giải pháp phù hợp, mang lại hiệu quả. - Xác định vấn đề còn tồn tại của việc sử dụng vốn vay của các hộ trồng quế tại địa bàn xã Quy Mông, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái. h 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học 2.
Tổng quan về vốn 2. Khái niệm, đặc điểm của nguồn vốn Vốn là yếu tố quan trọng đầu tiên cần thiết cho công cuộc phát triển kinh tế nông thôn. Muốn đẩy mạnh phát triển kinh tế nông thôn đầu tiên cần phải có vốn. Vốn trong phát triển nông thôn là tiền đầu tư hoặc cho thuê các yếu tố nguồn lực trong phát triển nông thôn.
Vốn trong phát triển nông thôn có những đặc điểm sau đây: - Trong sự cấu thành vốn cố định, ngoài những tư liệu lao động có nguồn gốc kỹ thuật còn bao gồm cả tư liệu lao động có nguồn gốc sinh học như cây lâu năm, súc vật làm việc, súc vật sinh sản. - Sự tác động của vốn vào quá trình sản xuất và hiệu quả kinh doanh không phải bằng cách trực tiếp mà thông qua đất, cây trồng, vật nuôi. - Vì nông thôn thường gắn liền với sản xuất nông nghiệp nên nhu cầu về vốn trong phát triển nông thôn thường có tính thời điểm. - Đầu tư vốn trong phát triển nông thôn thường gặp nhiều rủi ro vì sản xuất nông nghiệp ở nông thôn thường phụ thuộc vào điều kiện thời tiết, sâu bệnh và những yếu tố mà con người rất khó kiểm soát.
- Trong phát triển nông thôn, tốc độ thu hồi vốn chậm hơn bởi chu kì kinh doanh kéo dài, lợi nhuận thấp tính rủi ro cao. - Đầu tư vốn trong phát triển nông thôn ở các nước đang phát triển có lãi xuất thấp hơn các ngành kinh tế khác. Luận điểm này được hiểu là, ngay cả khi không phải chịu ảnh hưởng của thiên tai thì tỉ xuất lợi nhuận bình quân h 5 trong phát triển nông thôn cũng thường thấp hơn các lĩnh vực khác. Những nguyên nhân của tình trạng này là: + Phát triển nông thôn thường gắn với nông dân (tầng lớp có tính bảo thủ cao).
Phần đông số nông dân có xu hướng tiếp tục duy trì sản xuất, bất kể tình trạng không thu được lợi nhuận thậm chí bị thua lỗ. + Do trình độ lao động ở nông thôn và tiềm lực vốn thua kém, chu kỳ kinh doanh dài, nên nông dân rất khó khăn trong việc chuyển sang lĩnh vực sản xuất khác. - Vốn tích lũy của khu vực nông thôn rất thấp, điều này ảnh hưởng rất lớn tới khả năng chủ động nguồn vốn đầu tư cũng như khả năng quay vòng sản xuất. - Việc phân bổ trong phát triển nông nghiệp nông thôn còn nhiều bất cập.
Cụ thể: Vốn Nhà Nước chưa đáp ứng được nhu cầu thực hiện các trương trình, dự án dài hạn. Trong khi đó việc phân bổ vốn còn mất cân đối và chưa hợp lý; thiếu trọng tâm, trọng điểm vốn biểu hiện tình trạng ban phát, nguồn vốn đầu tư cho phát triển nông nghiệp nông thôn có nhiều kênh đáp ứng cho nhiều đối tượng nhưng chưa được phối hợp đồng bộ để đầu tư, sử dụng có hiệu quả mà còn tình trạng dàn trải, trồng chéo. Đây là một trong những lý do tại sao khu vực nông thôn rất nhiều tiềm năng thu hút nguồn vốn đầu tư của nước ngoài cũng như các tổ chức doanh nghiệp. Chính vì thế, khu vực nông thôn nước ta vẫn chưa có những bước chuyển biến mạnh mẽ cả về mức sống và trình độ kinh tế [1].
Các nguồn vốn trong phát triển nông nghiệp Vốn là nguồn lực hạn chế đối với các ngành kinh tế nói chung, nông nghiệp nói riêng. Vốn sản xuất vận động không ngừng từ phạm vi sản xuất sang phạm vi lưu thông và trở về sản xuất. Hình thức của vốn sản xuất cũng thay đổi từ hình thức tiền tệ sang hình thức tư liệu sản xuất và tiền lương cho h 6 nhân công đến sản phẩm hàng hoá và trở lại hình thức tiền tệ v. Như vậy vốn sản xuất trong nông nghiệp là biểu hiện bằng tiền của tư liệu lao động và đối tượng lao động được sử dụng vào sản xuất nông nghiệp.
Vốn đầu tư từ ngân hàng nhà nước: Vấn đề đầu tư cho nông nghiệp và nông thôn luôn được Nhà nước quan tâm. Trước hết cần khẳng định rằng vốn đầu tư cho nông nghiệp từ ngân sách Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế nông nghiệp và nông thôn. Vốn Nhà nước đầu tư cho nông nghiệp có vai trò to lớn, giúp tăng cường năng lực sản xuất, chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp. Mặt khác, do đặc điểm của đầu tư trong nông nghiệp là khả năng thu hồi vốn chậm hoặc không có khả năng thu hồi vốn, rủi ro cao nên không thu hút được các nhà đầu tư vào lĩnh vực này.
Vốn ngân sách đóng vai trò đi tiên phong, mở đường để thu hút các nguồn vốn khác thông qua các hình thức: tạo ra cơ sở hạ tầng tốt, nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp đồng thời tạo cho các nhà đầu tư có cảm giác yên tâm hơn đầu tư vào nông nghiệp khi có sự tham gia của Nhà nước. Vốn ngân sách Nhà nước chủ yếu đầu tư cho thuỷ lợi, chuyển dịch cơ cấu sản xuất, đầu tư vào các công trình trồng rừng, hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm cho nông dân.