CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THUẾ TÀI NGUYÊN 1. Khái niệm chung về thuế 1. Khái niệm về thuế Thuế ra đời và tồn tại cùng với sự ra đời và tồn tại của Nhà nước, do đó sự hiện diện của thuế trong nền kinh tế là một tất yếu khách quan nhằm đảm bảo các nhu cầu chi tiêu theo chức năng của Nhà nước. Các-Mác đã nói về quan hệ kinh tế giữa Nhà nước và thuế như sau: "Thuế là cơ sở kinh tế của bộ máy Nhà nước, là thủ đoạn giản tiện cho kho bạc thu được bằng tiền hay sản vật mà người dân phải đóng góp để dùng vào mọi việc chi tiêu của Nhà nước".
ĂngGhen cũng đã chỉ ra: “Để duy trì quyền lực công cộng, cần phải có sự đóng góp của công dân cho Nhà nước, đó là thuế”. [9] Nhà nước là điều kiện đầu tiên cho sự ra đời và tồn tại hệ thống thuế của một quốc gia. Trong trường hợp thu nhập của người dân không đủ chi dùng cho bản thân họ thì Nhà nước cũng không thể thu được thuế. Do đó, một điều kiện thứ hai rất quan trọng cần phải có để biết sự tồn tại của thuế đó là thu nhập xã hội.
Sự hình thành thu nhập trong xã hội chính là tiền đề cho việc động viên các khoản thu của Nhà nước mà trong đó thuế là khoản động viên cơ bản nhất. Tuỳ theo từng góc độ nghiên cứu mà người ta có những cách nhìn khác nhau về thuế: - Dưới góc độ nghiên cứu của kinh tế chính trị học, thuế được coi là hình thức phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân để hình thành nên quỹ tiền tệ của Nhà nước nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu theo chức năng của Nhà nước. - Dưới góc độ nghiên cứu pháp luật, thuế được coi là một phần thu nhập mà các tổ chức và cá nhân có nghĩa vụ đóng góp cho Nhà nước theo qui định của pháp luật. 2 - Dưới góc độ nghiên cứu của kinh tế học, thuế được coi là khoản mất mát của các DN hay hộ gia đình để hình thành nên quỹ tiền tệ của Nhà nước nhằm đáp ứng cho việc sử dụng các hàng hoá và dịch vụ công.
Dù được nhìn nhận dưới góc độ nào, có lẽ không ai có thể phủ nhận rằng thuế là khoản đóng góp có tính chất bắt buộc cho Nhà nước, được thực hiện mà không đề cập đến lợi ích cụ thể của người đóng thuế. Cũng chính vì đặc điểm này mà người nộp thuế thường không mấy dễ chịu và có cảm giác bị tước đoạt một phần tài sản cá nhân của họ, dù rằng ai cũng muốn được hưởng nhiều dịch vụ phúc lợi công cộng từ Nhà nước. Nhận thức được đặc điểm này của thuế, chúng ta sẽ dễ dàng xác định những yêu cầu mà người nộp thuế thường đòi hỏi ở một hệ thống thuế. Từ những phân tích ở trên, có thể hiểu thuế theo khái niệm như sau: Thuế là khoản đóng góp bắt buộc trích từ một phần thu nhập của các tổ chức và cá nhân cho Nhà nước theo qui định của pháp luật để phục vụ cho các nhu cầu chi tiêu theo chức năng của Nhà nước.
Vai trò của thuế Các nhà kinh tế học thường đề cập vai trò của thuế đối với NSNN và đời sống xã hội. Bởi vì trên thực tế, thông qua hoạt động thu thuế, Nhà nước tập trung được một bộ phận của cải của xã hội, từ đó hình thành nên NSNN và thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội. Vai trò của thuế được thể hiện trên các khía cạnh sau đây: Thứ nhất, Thuế là nguồn thu chủ yếu của NSNN. Một nền tài chính quốc gia lành mạnh và vững chắc phải dựa chủ yếu vào nguồn thu từ nội bộ nền kinh tế quốc dân.
Thuế là nguồn thu quan trọng nhất để phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân. Ở nước ta hiện nay nguồn thu từ nước ngoài giảm nhiều, kinh tế đối ngoại chuyển thành có vay, có trả; trước mắt, thuế phải là một công cụ quan trọng góp phần tích cực giảm bội chi ngân sách, giảm lạm phát, từng bước góp phần ổn định trật 3 tự xã hội và phát triển kinh tế bền vững. Với cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, hệ thống thuế phải được áp dụng thống nhất giữa các thành phần kinh tế. Thuế phải bao quát hết các hoạt động kinh doanh, các nguồn thu nhập, mọi tài nguyên chịu thuế và tiêu dùng xã hội.
Thứ hai, Thuế là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Ngoài việc huy động nguồn thu cho ngân sách, thuế có vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh nền kinh tế. Thuế có ảnh hưởng trực tiếp đến giá cả và thu nhập. Vì vậy căn cứ vào tình hình cụ thể, Nhà nước sử dụng công cụ này để chủ động điều hành nền kinh tế.
Lúc nền kinh tế quá thịnh thì việc gia tăng thuế có tác dụng ức chế sự tăng trưởng của tổng nhu cầu làm giảm phát triển của kinh tế. Ngược lại, khi nền kinh tế rơi vào khủng hoảng hoặc suy thoái, Nhà nước có thể hạ thấp mức thuế để kích thích sản xuất, tiêu dùng. Như vậy, qua việc xây dựng các luật thuế mà Nhà nước có thể chủ động phát huy vai trò điều hoà nền kinh tế. Dựa vào công cụ thuế, Nhà nước có thể thúc đẩy hoăc hạn chế việc tích luỹ đầu tư, khuyến khích xuất khẩu… Thứ ba, Thuế góp phần đảm bảo sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế và công bằng xã hội.
Hệ thống thuế được áp dụng thống nhất giữa các ngành nghề, các thành phần kinh tế, các tầng lớp dân cư để đảm bảo sự bình đẳng và công bằng xã hội. Sự bình đẳng và công bằng xã hội được thể hiện thông qua chính sách động viên giống nhau giữa các đơn vị, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế có những điều kiện hoạt động giống nhau, đảm bảo sự bình đằng về nghĩa vụ đối với mọi công dân, không có đặc quyền, đặc lợi cho bất kì đối tượng nào. Công bằng xã hội không có nghĩa là bình quân chủ nghĩa. Người có thu nhập cao phải đóng thuế nhiều hơn người có thu nhập thấp.
Tuy nhiên phải để người có thu nhập cao chính đáng được hưởng thành quả lao động của mình thì mới khuyến khích họ phát triển sản xuất kinh doanh, tránh lạm thu, trùng lắp để đảm bảo công bằng và bình đẳng xã hội. 4 Bình đẳng, công bằng xã hội không chỉ là đạo lý, lý thuyết mà phải được biểu hiện bằng luật pháp, chế độ qui định của nhà nước; phải có những biện pháp chống thất thu về thuế đối với đối tượng nộp thuế, về căn cứ tính thuế, về tổ chức quản lý thu thuế, về chế độ miễn giảm thuế, về kiểm tra, xử lý nghiêm minh đối với các vụ vi phạm trốn thuế… 1. Phân loại theo tính chất kinh tế Cách phân loại cổ điển và thường được nhắc nhiều là căn cứ vào tính chất kinh tế, tính chất có thể chuyển dịch gánh nặng về thuế giữa người nộp thuế và người chịu thuế. Người ta phân chia thuế thành hai loại chủ yếu, đó là thuế trực thu và thuế gián thu.
Thuế trực thu: Thuế trực thu là loại thuế đánh trực tiếp vào thu nhập của các đối tượng nộp thuế. Việc động viên cho ngân sách qua thuế trực thu có tính công bằng hơn so với thuế gián thu, bởi vì phần đóng góp về thuế thường phù hợp với khả năng của từng đối tượng; thu nhập cao thì phải nộp thuế nhiều, thu nhập thấp thì nộp thuế ít, thu nhập chỉ đủ trang trải chi phí cần thiết hoặc không có thu nhập thì không phải nộp thuế. Thuộc loại thuế trực thu có thể kể đến các luật thuế như: Thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân, thuế tài sản, thuế tặng phẩm… b. Thuế gián thu: Thuế gián thu là loại thuế đánh vào việc sử dụng thu nhập của các tổ chức, cá nhân khi tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ trên thị trường.
Thuế này do người sản xuất kinh doanh cung ứng hàng hoá, dịch vụ nộp cho Nhà nước, nhưng người tiêu dùng cuối cùng là những người chịu thuế. DN chuyển thuế bằng cách cộng thuế vào giá bán hàng hoá, dịch vụ nên người ta gọi là thuế gián thu. Các DN ở đây chỉ giữ vai trò như người thu hộ thuế cho Nhà nước. Thuộc loại thuế gián thu gồm có các luật thuế như: Thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu.
5 Tuỳ theo đặc điểm và trình độ phát triển kinh tế, xã hội của mỗi nước, cũng như quan điểm của những người lãnh đạo Nhà nước trong từng thời kỳ, người ta có thể lựa chọn, coi trọng loại thuế gián thu hay thuế trực thu. Phân loại theo đối tượng đánh thuế Phân loại theo tiêu thức này, thuế bao gồm các loại thuế sau: - Thuế đánh vào hoạt động sản xuất kinh doanh như: Thuế giá trị gia tăng. - Thuế đánh vào sản phẩm đặc thù, như: Thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu. - Thuế đánh vào thu nhập, như: Thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân.
- Thuế đánh vào tài sản, như: Thuế nhà đất, thuế chuyển quyền sử dụng đất. - Thuế đánh vào tài sản thuộc sở hữu Nhà nước, như: TTN. Phân loại thuế theo phương thức sử dụng Theo phương thức này, thuế được phân thành: Thuế tổng hợp và thuế chuyên dùng. - Thuế tổng hợp: Là loại thuế tuy được thu từ nhiều nguồn đơn lẻ khác nhau nhưng được tập trung vào NSNN và được sử dụng chung cho các mục đích phát triển kinh tế - xã hội có tính chất toàn quốc.
- Thuế chuyên dùng: Là loại thuế thu từ một nguồn (hoặc một số nguồn) đơn lẻ nhất định nào đó và được tập trung vào một quỹ nhất định trong NSNN. Quỹ này được sử dụng gắn với mục đích đã được xác định trước. Ngày nay, Chính phủ các nước phát triển chủ yếu là qui định các loại thuế tổng hợp. Tuy nhiên, họ vẫn còn duy trì một vài loại thuế chuyên dùng nhất định để thực hiện một số nhiệm vụ chi cấp bách, quan trọng.
Khái niệm, vai trò, đặc điểm và nguyên tắc quản lý thuế 1. Khái niệm về quản lý thuế Theo từ điển Tiếng Việt, quản lý là "Tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định".