CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH NỘI BỘ CỦA KHO BẠC NHÀ NƯỚC 1. Cơ sở lý luận về quản lý tài chính nội bộ của Kho bạc Nhà nước 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Quản lý tài chính Theo từ điển Wikipedia: “Tài chính là phạm trù kinh tế, phản ánh các quan hệ phân phối của cải xã hội dưới hình thức giá trị.
Phát sinh trong quá trình hình thành, tạo lập, phân phối các quỹ tiền tệ của các chủ thể trong nền kinh tế nhằm đạt mục tiêu của các chủ thể ở mỗi điều kiện nhất định” (Trang thông tin điện tử https://vi. Theo giáo trình quản lý tài chính công “Tài chính công là tổng thể các hoạt động thu chi bằng tiền do nhà nước tiến hành, nó phản ánh hệ thống các quan hệ kinh tế nảy sinh trong quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ công, nhằm phục vụ việc thực hiện các chức năng của nhà nước và đáp ứng các nhu cầu, lợi ích chung của toàn xã hội” (Dương Đăng Chinh và Phạm Văn Khoan, 2005). Tài chính nhà nước bao gồm tài chính công và tài chính doanh nghiệp nhà nước nhằm thực hiện mục tiêu kinh tế, xã hội, đảm bảo xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Tại Giáo trình quản lý tài chính công của tác giả Dương Đăng Chinh và Phạm Văn Khoan xuất bản năm 2005 đã cho rằng “Quản lý là sự tác động có hướng đích của chủ thể quản lý đến một hệ thống nào đó nhằm biến đổi nó từ trạng thái này sang trạng thái khác theo nguyên lý phá vỡ hệ thống cũ để tạo lập hệ thống mới và điều khiển hệ thống” (Dương Đăng Chinh và Phạm Văn Khoan, 2005).
Quản lý thực chất cũng là một hành vi, đã là hành vi thì phải có người gây ra và người chịu tác động. Tiếp theo cần có mục đích của hành vi, đặt ra câu hỏi tại sao làm như vậy? Do đó, để hình thành nên hoạt động quản lý trước 6 tiên cần có chủ thể quản lý: nói rõ ai là người quản lý? Sau đó cần xác định đối tượng quản lý: quản lý cái gì? Cuối cùng cần xác định mục đích quản lý: quản lý vì cái gì? Như vậy, “Quản lý nói chung được quan niệm như một quy trình công nghệ mà chủ thể quản lý tiến hành thông qua việc sử dụng các công cụ và phương pháp thích hợp nhằm tác động và điều khiển đối tượng quản lý hoạt động phát triển phù hợp với quy luật khách quan và đạt tới các mục tiêu đã định” (Dương Đăng Chinh và Phạm Văn Khoan, 2005). Với những phân tích trên mọi hoạt động quản lý đều phải do 4 yếu tố cơ bản sau cấu thành: Chủ thể quản lý, trả lời câu hỏi: do ai quản lý? Khách thể quản lý, trả lời câu hỏi: quản lý cái gì? Mục đích quản lý, trả lời câu hỏi: quản lý vì cái gì? Môi trường và điều kiện tổ chức, trả lời câu hỏi: quản lý trong hoàn cảnh nào? Theo đó, Quản lý tài chính có thể được hiểu là quá trình áp dụng các công cụ và phương pháp quản lý nhằm tạo lập và sử dụng các quỹ tài chính của đơn vị để đạt những mục tiêu đã định. Theo chức năng quản lý tài chính bao gồm: Lập các kế hoạch tài chính dài hạn, trung hạn và ngắn hạn, tổ chức, điều hành và kiểm soát hoạt động thu chi của đơn vị nhằm phục vụ cho việc quản lý có hiệu quả vốn hoạt động của đơn vị.
Việc quản lý tài chính không có hiệu quả là nguyên nhân lớn dẫn đến sự thất bại của bất kỳ đơn vị nào, không kể đơn vị đó là nhỏ hay có quy mô lớn. Quản lý tài chính tại cơ quan hành chính Nhà nước Cơ quan hành chính Nhà nước là một bộ phận cấu thành của bộ máy Nhà nước được thành lập ra để thực hiện chức năng quản lý điều hành mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Các cơ quan hành chính Nhà nước hoạt động không vì 7 mục tiêu lợi nhuận mà hoạt động vì mục đích chung phục vụ cho lợi ích cộng đồng. Tài chính trong cơ quan hành chính nhà nước được hiểu là các hoạt động thu và chi bằng tiền của các cơ quan nhà nước để đảm bảo hoạt động thường xuyên của cơ quan nhà nước, đồng thời thực hiện các nhiệm vụ mà Nhà nước giao phó.
Quản lý tài chính trong các cơ quan hành chính nhà nước có thể được hiểu là quá trình áp dụng các công cụ và phương pháp quản lý nhằm tạo lập và sử dụng các quỹ tài chính trong các cơ quan HCNN để đạt những mục tiêu đã định. Đối tượng quản lý của Quản lý tài chính trong các cơ quan, đơn vị, đó chính là hoạt động tài chính của những cơ quan, đơn vị này. Đó là các mối quan hệ kinh tế trong phân phối gắn liền với quá trình hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ trong mỗi cơ quan, đơn vị. Cụ thể là việc quản lý các nguồn tài chính cũng như những khoản chi đầu tư hoặc các khoản chi thường xuyên của các cơ quan, đơn vị.
Để quản lý tài chính trong các cơ quan, đơn vị; cơ quan, đơn vị sử dụng nhiều phương pháp cũng như nhiều công cụ quản lý khác nhau nhưng mục đích hướng đến của quản lý tài chính trong các cơ quan, đơn vị cũng là tính hiệu quả trong hoạt động tài chính để nhằm đạt đến những mục tiêu đã định. Quản lý tài chính nội bộ tại Kho bạc Nhà nước Tài chính nội bộ trong nội bộ KBNN được hiểu là các hoạt động thu và chi bằng tiền của một đơn vị Kho bạc Nhà nước để đảm bảo hoạt động thường xuyên của đơn vị đó đồng thời thực hiện các nhiệm vụ được Nhà nước giao phó. Theo quan điểm của tác giả, quản lý tài chính nội bộ tại Kho bạc Nhà nước có thể được hiểu là sự tác động liên tục, có tổ chức, định hướng mục tiêu vào quá trình xây dựng cơ chế quản lý tài chính nội ngành tại Kho bạc Nhà nước, bằng việc áp dụng các công cụ và phương pháp quản lý nhằm tạo lập và 8 sử dụng các quỹ tài chính của KBNN để đạt được kết quả và hiệu quả quản lý tài chính cao nhất trong hệ thống. Đặc điểm, vai trò của quản lý tài chính nội bộ tại Kho bạc Nhà nước 1.
Đặc điểm của quản lý tài chính nội bộ tại Kho bạc Nhà nước Kho bạc Nhà nước là cơ quan trực thuộc Bộ Tài chính, thực hiện chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Tài chính quản lý nhà nước về quỹ ngân sách nhà nước, các quỹ tài chính nhà nước; quản lý ngân quỹ nhà nước; tổng kế toán nhà nước; thực hiện việc huy động vốn cho ngân sách nhà nước và cho đầu tư phát triển thông qua hình thức phát hành trái phiếu Chính phủ theo quy định của pháp luật. Thực hiện Quyết định số 3192/QĐ-BTC ngày 19/12/2013 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về việc ban hành Quy chế quản lý tài chính và biên chế đối với các đơn vị thuộc hệ thống Kho bạc Nhà nước. Theo đó, hệ thống Kho bạc Nhà nước đã có những đặc điểm riêng về quản lý tài chính nội bộ so với các tổ chức khác. Thứ nhất, về nguồn kinh phí đảm bảo hoạt động: Nguồn NSNN cấp bảo đảm chi một lần tiền lương, tiền công, phụ cấp lương và các khoản đóng góp theo chế độ nhà nước quy định trên cơ sở chỉ tiêu biên chế và lao động hợp đồng theo quy định của pháp luật được Bộ trưởng Bộ Tài chính giao; Các nguồn kinh phí khác được NSNN giao theo quy định của pháp luật như: kinh phí chương trình mục tiêu quốc gia và các chương trình, dự án theo quy định của nhà nước, thực hiện nhiệm vụ phát hành, thanh toán công trái, trái phiếu, tín phiếu, thực hiện tinh giản biên chế theo chế độ nhà nước quy định, các nguồn vay nợ, viện trợ và nguồn kinh phí khác được cơ quan có thẩm quyền giao; Toàn bộ nguồn thu từ hoạt động nghiệp vụ của KBNN theo quy định của nhà nước như: Thu phát sinh trong hoạt động thanh toán, chuyển tiền, hoạt động 9 bảo quản, kiểm định, cất trữ vàng bạc đá quý, ngoại tệ, các chứng chỉ có giá, chênh lệch thu từ lãi, phí tiền gửi với các khoản phí phải thanh toán tại NHNN và các NHTM, thu từ nghiệp vụ ứng vốn theo quy định của Bộ Tài chính, chênh lệch thu chi từ bán ấn chỉ cho khách hàng, các khoản phí dịch vụ thu hộ tiền điện, tiền nước, điện thoại, các nguồn thu hợp pháp khác theo quy định của pháp luật; Nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp, hoạt động dịch vụ của KBNN; Quỹ phát triển hoạt động ngành; Các nguồn kinh phí hợp pháp khác theo quy định của pháp luật.
Thứ hai, về các nội dung chi: Chi thường xuyên gồm: Chi thanh toán cá nhân; Chi quản lý hành chính; Chi hoạt động nghiệp vụ; Chi phối hợp tổ chức thực hiện nhiệm vụ; Chi đoàn đi công tác nước ngoài, chi đón, tiếp khách nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam, chi tổ chức hội thảo, hội nghị quốc tế tại Việt Nam; Chi hỗ trợ công tác điều động, luân chuyển, biệt phái CCVC trong hệ thống KBNN; Chi bảo đảm hoạt động của tổ chức đảng theo quyết định của Ban Bí thư Trung ương Đảng; chi chế độ đối với cán bộ tự vệ; chi đảm bảo hoạt động của các đoàn thể theo quy định của pháp luật hiện hành; Chi mua bảo hiểm phương tiện, tài sản, kho tàng theo quy định của pháp luật; Các khoản chi có tính chất thường xuyên khác. Chi đầu tư phát triển, hiện đại hóa KBNN gồm: Chi đầu tư, tăng cường cơ sở vật chất; xây dựng, sửa chữa kho tàng, trụ sở làm việc và giao dịch; mua sắm các trang thiết bị chuyên dùng; sửa chữa, mua sắm tài sản phục vụ công tác chuyên môn, nghiệp vụ; Chi duy trì và phát triển, hiện đại hóa CNTT; Chi nghiên cứu khoa học, ĐTBD nghiệp vụ cho CCVC theo chương trình, kế hoạch của KBNN; Chi bù đắp thiệt hại về tiền, tài sản trong các trường hợp bất khả kháng như thiên tai, hỏa hoạn, rủi ro theo quy định của pháp luật; Chi thực hiện các chương trình, kế hoạch, dự án, đề án ứng dụng CNTT, mua sắm trang thiết 10 bị, ĐTXD, tăng cường cơ sở vật chất, đào tạo bồi dưỡng CCVC và các nội dung khác theo nhiệm vụ chung của toàn ngành tài chính, trong đó có phục vụ nhiệm vụ chuyên môn của hệ thống KBNN theo quyết định của Bộ trưởng Bộ Tài chính; Các khoản chi khác theo quy định của pháp luật.