CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ KHAI THÁC HỆ THỐNG CÔNG TRÌNH THỦY LỢI 1. Một số vấn đề cơ bản về hoạt động quản lý 1. Khái niệm về quản lý Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng và kháng thể quản lý nhằm sử dụng hiệu quả nhất các nguồn lực, các thời cơ của tổ chức để đạt mục tiêu đặt ra trong điều kiện môi trường luôn biến động. Quản lý là một phạm trù với tính chất là một loại lao động xã hội hay lao động chung được thực hiện ở quy mô lớn.
Quản lý được phát sinh từ lao động, không tách rời với lao động và bản thân quản lý cũng là một loại hoạt động lao động, bất kỳ một hoạt động nào mà do một tổ chức thực hiện đều cần có sự quản lý dù ở mức độ nhiều hay ít nhằm phối hợp những hoạt động cá nhân thực hiện những chức năng chung. Quản lý có thể được hiểu là các hoạt động nhằm bảo đảm hoàn thành công việc qua nỗ lực của người khác. Hoạt động quản lý phải trả lời các câu hỏi như phải đạt được mục tiêu nào đã đề ra? phải đạt mục tiêu như thế nào và bằng cách nào? phải đấu tranh với ai và như thế nào? có rủi ro gì xảy ra và cách xử lý? Như vậy, quản lý không phải là sản phẩm của sự phân chia quyền lực, mà là sản phẩm của sự phân công lao động để liên kết và phối hợp hoạt động chung của một tập thể. Vì vậy, thuật ngữ quản lý luôn gắn liền với tổ chức.
Cơ chế quản lý Cơ chế quản lý là sản phẩm chủ quan của hoạt động quản lý sản xuất. Hiệu quả của nó đến đâu còn tùy thuộc vào sự nắm bắt quy luật và trình độ tổ chức quản lý để đảm bảo yêu cầu cao nhất đó là sự đồng bộ ăn khớp nhịp nhàng và nhạy bén. Cơ chế quản lý là những quy định quản lý các bộ phận quản lý và các mối quan hệ về nhiệm vụ, quyền hạn của từng người từng bộ phận nhằm hoàn thành mục tiêu chung của tổ chức. Tuy có nhiều cách hiểu 2 khác nhau, nhưng đã nói đến cơ chế quản lý là hàm ý nói đến hệ thống tổ chức được sắp xếp theo thứ bậc, thành từng nhóm, từng bộ phận và ứng với vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể để cùng thực hiện một mục tiêu chung của tổ chức, nói đến quản lý là nói đến các hoạt động, tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý để đạt được mục tiêu.
Tổ chức và quản lý có mối liên hệ mật thiết, khăng khít lẫn nhau, phụ thuộc vào nhau. Quản lý là tổng hợp các hoạt động nhằm duy trì và hoàn thiện hệ thống tổ chức, thúc đẩy hoạt động của tổ chức bảo đảm sự tồn tại và vận hành của tổ chức, có tổ chức mà không có cơ chế quản lý sẽ trở thành một tập hợp hỗn loạn. Giải quyết vấn đề tổ chức phải dựa trên khả năng quản lý, hệ thống quản lý phải xuất phát từ hình thức và phương pháp tổ chức. Cơ chế quản lý với 2 nội dung cơ bản là tổ chức và quản lý không tách rời nhau, chúng gắn chặt với nhau, chi phối lẫn nhau.
Để thực hiện tốt chức năng quản lý phải xây dựng khung thể chế để mọi cá nhân tổ chức thực hiện, thông qua đó đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của mỗi người. Phương pháp và nguyên tắc xây dựng cơ chế quản quản lý a. Các nguyên tắc hoàn thiện cơ chế quản lý - Thực hiện đầy đủ chức năng, nhiệm vụ của từng cấp và sự thống nhất, thông suốt từ trung ương đến địa phương, từ cấp cao đến cấp thấp. - Tinh gọn, hợp lý, hiệu lực, phù hợp với từng địa phương, khu vực với quy mô, phạm vi, tính chất, đặc điểm của từng công trình.
- Bảo đảm sự mềm dẻo, linh hoạt và thích nghi nhanh với sự thay đổi của môi trường kinh doanh và đặc điểm tổ chức sản xuất nông nghiệp. - Có phạm vi kiểm soát hữu hiệu, không chồng chéo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn. - Bảo đảm hiệu quả, huy động triệt để sự phối hợp của các thành phần kinh tế, người hưởng lợi và bộ máy chính quyền các cấp. Gắn quyền lợi và 3 trách nhiệm giữa Nhà nước, người hưởng lợi với tổ chức quản lý, giữa tổ chức quản lý với người sử dụng dịch vụ, giữa cá nhân và tổ chức.
Các nguyên tắc trên có mối quan hệ mật thiết với nhau vì thế không được xem nhẹ nguyên tắc nào. Các phương pháp đổi mới hoàn thiện cơ chế quản lý + Phương pháp mô phỏng: Phương pháp mô phỏng là phương pháp dựa vào các cơ chế quản lý đã thành công, gạt bỏ những yếu tố bất hợp lý không phù hợp để xây dựng hoặc hoàn thiện cơ chế hiện có. Ưu điểm của phương pháp này nhanh gọn, hao phí ít thời gian và tiền bạc cho công tác nghiên cứu, kế thừa có chọn lọc các kinh nghiệm đã có. Nhược điểm đòi hỏi phải tập hợp được nhiều thông tin, có năng lực tổ chức quản lý giỏi, biết phân tích xem xét để tránh các sao chép máy móc, không phù hợp.
+ Phương pháp phân tích: Phương pháp phân tích theo yếu tố là phương pháp khoa học, được ứng dụng rộng rãi ở mọi cấp mọi đối tượng quản lý. Xuất phát từ mục tiêu nhiệm vụ, đặc điểm hoạt động, đặc điểm sản phẩm thị trường, các yếu tố và điều kiện môi trường kinh doanh, quy trình và công nghệ sản xuất, quy trình tiêu thụ sản phẩm và các đối tác có liên quan. Trên cơ sở đó nghiên cứu phác thảo cơ chế tổ chức quản lý, số cấp quản lý và số bộ phận quản lý phù hợp. Ưu điểm của phương pháp này là bộ máy quản lý được nghiên cứu xây dựng công phu có cơ sở khoa học, bộ máy được hình thành trên cơ sở nhiệm vụ sản xuất nên phù hợp với đặc điểm của doanh nghiệp do đó hoạt động của nó sẽ tốt và nhịp nhàng.
Nhược điểm là đòi hỏi phải đầu tư nghiên cứu thỏa đáng nên tốn thời gian và tiền bạc. Các yếu tố quyết định hiệu quả và bền vững của công trình thủy lợi * Trình độ quản lý, năng lực chuyên môn của đội ngũ cán bộ quản lý và trình độ nhận thức của nông dân là nhân tố có ảnh hưởng rất lớn đến tính bền vững và hiệu quả sử dụng các công trình thủy lợi. 4 * Tác dụng của nước đến công trình thủy lợi - Tác dụng cơ học của nước tới công trình thủy lợi là áp lực nước ở dạng tĩnh hoặc động. Trong đó, áp lực thủy tĩnh thường là lớn nhất và thường đóng vai trò quyết định đến điều kiện làm việc và ổn định của công trình.
- Tác dụng lý, hóa học của nước thể hiện ở nhiều dạng khác nhau như dòng nước có thể bào mòn công trình, đặc biệt khi dòng nước có lưu tốc lớn và nhiều bùn cát. Ở nơi có lưu tốc lớn và do kết cấu công trình thủy lợi có thể sinh ra lưu vực chân không, gây hiện tượng xâm thực bề mặt công trình. Các bộ phận làm bằng kim loại có thể bị rỉ, phần bê tông có thể bị nước thấm xâm thực. Dưới tác dụng của dòng nước làm cho nền công trình có thể bị sói mòn cơ học, hóa học lôi cuốn đất làm rỗng nền, hoặc hòa tan các chất trong nền có thạch cao, muối và các chất hòa tan khác.
- Tác dụng sinh học của nước: Các sinh vật có thể bám vào các công trình thủy lợi làm mục nát gỗ, bêtông, đá, mối làm rỗng thân đê, thân đập, làm sập nền công trình. * Điều kiện tại chỗ có liên quan chặt chẽ tới xây dựng công trình thủy lợi - Điều kiện thiên nhiên như địa hình, địa vật, địa chất, khí tượng thủy văn…có ảnh hưởng sâu rộng và nhiều mặt hơn bất kỳ loại công trình xây dựng nào. Những yếu tố tự nhiên ấy nhiều khi có ảnh hưởng quyết định đến quy mô, hình thức kết cấu, điều kiện làm việc lâu dài của công trình thủy lợi. - Trong thiên nhiên, sự tổng hợp các điều kiện không nơi nào giống nhau cho nên hầu như công trình thủy lợi nào cũng có những đặc điểm riêng.
Thực tế xây dựng công trình thủy lợi do tài liệu thủy văn không đầy đủ, không chính xác nên công trình thủy lợi được xây dựng nhưng khả năng tháo lũ không đủ, gây nguy hiểm khi lũ lớn, nhiều trạm thủy điện không chạy đủ công suất. * Yếu tố tổ chức quản lý và sử dụng 5 - Là hình thức tổ chức quản lý và sử dụng công trình thủy lợi dưới hình thức hợp tác xã dùng nước hay nhóm hộ dùng nước, sự kết hợp giữa quản lý của chính quyền địa phương với cộng đồng, sự đồng nhất giữa người quản lý và người sử dụng công trình. * Yếu tố xã hội - Bao gồm các đặc điểm và các yếu tố xã hội liên quan đến người sử dụng như tính cộng đồng, trình độ kỹ thuật, tập quán canh tác của nông dân. Đặc biệt những người dễ bị tổn thương có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả quản lý và sử dụng công trình thủy lợi.
* Yếu tố kỹ thuật - Bao gồm các công nghệ được áp dụng vào công trình thủy lợi như tưới tiêu tự chảy hay bơm đẩy, tưới ngầm, tưới tràn hay tưới phun. * Điều kiện thi công - Các công trình thủy lợi vô cùng phức tạp, địa điểm xây dựng thường là ở ngay lòng sông, lòng suối, luôn luôn bị nước lũ, nước ngầm uy hiếp, vấn đề dẫn dòng, tháo lũ, giải quyết nước ngầm, hố móng ở sâu xử lý nền móng phức tạp kéo dài, nên có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả khai thác và sử dụng công trình. Hệ thống thủy lợi và vai trò của nó đối với nền kinh tế quốc dân 1. Khái niệm hệ thống thủy lợi Theo thống kê điều tra ngày 1/4/1999 dân số nước ta là 76.753 người trong đó có 37.
Số người sống ở nông thôn là 58.770(chiếm 76,5%) và ở thành thị là 17.983 người (chiếm 23,5%) với tỷ lệ tăng dân số bình quân là 2,1% từ năm 1979-1989 và là 1,7% từ năm 1989-1999. Hiện nay vấn đề phát triển nông thôn đang là mối quan tâm hàng đầu ở các nước trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng cũng như thu hút được sự chú ý của nhiều nhà 6 khoa học.