phần mở đầu, mục lục, tài liệu tham khảo, luận văn chia làm 3 chƣơng sau: - Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận về phát triển nông nghiệp. - Chƣơng 2: Thực trạng phát triển nông nghiệp trên địa bàn huyện Càng Long. - Chƣơng 3: Giải pháp phát triển nông nghiệp trên địa bàn huyện Càng Long trong thời gian tới. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Nông nghiệp có vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế, nên trong quá trình phát triển kinh tế nƣớc ta, vấn đề phát triển nông nghiệp luôn là mối quan tâm nguyên cứu của các nhà lý luận, kinh tế học, các nhà làm chính sách và các tổ chức phát triển.
Từ khi đổi mới đến nay, Việt Nam đã hội nhập sâu vào nền kinh tế toàn cầu thông qua việc gia nhập tổ chức khu vực và thế giới nên đã có nhiều công trình nguyên cứu và những định hƣớng về phát triển nông nghiệp: - Trong tác phẩm “Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam thời kỳ đổi mới” (2003), của TS. Nguyễn Sinh Cúc cho rằng, nông nghiệp Việt Nam sau đổi mới đã trải qua các giai đoạn phát triển gồm giai đoạn 1986-1990 phát triển nông nghiệp dựa trên kinh tế nông hộ, gia tăng sản lƣợng nhằm đảm bảo an ninh lƣơng thực, xóa đói giảm nghèo nhanh chóng; giai đoạn 1991-1995 nông nghiệp phát triển toàn diện theo hƣớng sản xuất hàng hóa, gia tăng xuất khẩu nông sản, nhất là gạo và bắt đầu phát triển kinh tế trang trại trong sản xuất nông nghiệp; giai đoạn 1996-2002 tiếp tục xây dựng nền nông nghiệp hàng hóa và phát triển nông nghiệp theo hƣớng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Bùi Bá Bổng (2004) trong bài viết “Một số vấn đề trong phát triển nông nghiệp và nông thôn Việt Nam hiện nay và những năm tới”. Các giải pháp để phát triển nông nghiệp nông thôn hiện nay và trong những năm tới là: Tiếp tục thực hiện chủ trƣơng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn theo hƣớng phát huy lợi thế so sánh của mỗi vùng gắn với nhu cầu thị trƣờng.
Tăng cƣờng tiềm lực khoa học và công nghệ và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật. Đẩy mạnh việc thực hiện chƣơng trình phát triển nông thôn. Xây dựng và thực hiện chiến lƣợc phát triển thị trƣờng, hoàn thiện hệ thống tổ chức kinh doanh tiêu thụ nông lâm sản hàng hóa trong nƣớc và xuất khẩu; chủ động hội nhập kinh tế khu vực và thế giới. Hoàn thiện và đổi mới các chính 5 sách, tiếp tục tạo động lực thúc đẩy sản xuất hàng hóa nông nghiệp phát triển.
Đầu tƣ phát triển nguồn nhân lực cho nông nghiệp nông thôn. Tăng cƣờng hợp tác quốc tế và hội nhập để tăng thêm nguồn lực cho phát triển của ngành trong những năm trƣớc mắt cũng nhƣ lâu dài. - Nguyên cứu của TS. Đinh Phi Hỗ (2006) cho rằng nông nghiệp có những đặc điểm là: Nông nghiệp có đối tƣợng sản xuất là cây trồng và vật nuôi, chúng là các sinh vật; Ruộng đất sử dụng trong nông nghiệp đƣợc coi là tƣ liệu sản xuất đặc biệt; Hoạt động của lao động và tƣ liệu sản xuất trong nông nghiệp có tính thời vụ; Nông nghiệp có địa bàn sản xuất rộng lớn nhƣng lại mang tính khu vực.
- Nguyên cứu về cơ cấu kinh tế ngành tỉnh Trà Vinh, luận án tiến sĩ “Phương hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành tỉnh Trà Vinh đến 2015” (2007) của Trần Tuấn Anh. Tác giả cho rằng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế là nhiệm vụ quan trọng trong giai đoạn hiện nay của tỉnh Trà Vinh, việc xác định cơ cấu nhƣ thế nào là hợp lý để tạo điều kiện cho tỉnh sử dụng có hiệu quả tài nguyên của mình, phát huy đƣợc thế mạnh, đảm bảo đƣợc các mục tiêu trƣớc mắt và lâu dài. Võ Tòng Xuân (2009) bài viết “Nông dân và nông nghiệp Việt Nam nhìn từ sản xuất thị trường” có những đề xuất để đƣa nông nghiệp nƣớc ta tăng trƣởng nhanh và hiện đại hơn các nƣớc trong khu vực với giải pháp để ngƣời trồng lúa có lãi, nâng cao thu nhập, ổn định đƣợc cuộc sống, đồng thời đảm bảo an ninh lƣơng thực quốc gia. Từ đó, dƣới gốc nhìn từ sản xuất, thị trƣờng vấn đề đặt ra với ngành nông nghiệp và cả ngƣời nông dân cũng cần đổi mới để tăng tính cạnh tranh.
- Nguyên cứu của PGS. Phan Thúc Huân (2007) cho rằng sản xuất nông nghiệp có các đặc điểm: Ruộng đất là tƣ liệu sản xuất chủ yếu, vừa là đối tƣợng lao động vừa là tƣ liệu lao động; Sản xuất nông nghiệp có tính thời 6 vụ; Đối tƣợng của sản xuất nông nghiệp là những cơ thể sống có nhu cầu khác nhau về môi trƣờng, điều kiện ngoai cảnh; Sản xuất nông nghiệp trên địa bàn đƣợc phân bố trên phạm vi và không gian rộng lớn; Phối hợp chức năng quản trị và sở hữu, tƣ liệu sản xuất chủ sử dụng ruộng đất (trong sản xuất nông nghiệp quản trị gia và chủ sở hữu là bản thân ngƣời nông dân); Phần lớn nông trại là những đơn vị kinh doanh nhỏ; Cung và cầu có tính không co giãn; Sản xuất nông nghiệp phải đƣơng đầu với nhiều rủi ro; Tài trợ cho sản xuất nông nghiệp là công việc phức tạp và nhiều rủi ro; Sản xuất nông nghiệp không đòi hỏi trình độ văn hóa cao. Nguyễn Trần Trọng (2012) bài viết “Phát triển nông nghiệp Việt Nam giai đoạn 2011-2020” đề cập đến phƣơng pháp tiếp cận phát triển nông nghiệp trong giai đoạn hiện nay ở Việt Nam dƣới gốc độ thị trƣờng, gốc độ công nghiệp, gốc độ môi sinh và những định hƣớng chủ yếu phát triển nông nghiệp Việt Nam giai đoạn 2011-2020 gồm: Tiếp tục đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp hàng hóa theo hƣớng kinh tế thị trƣờng, từng bƣớc chuyển các đơn vị, ngành, vùng nông nghiệp còn căn bản tự cấp tự túc ở các tỉnh miền núi, vùng dân tộc ít ngƣời lên sản xuất hàng hóa, xây dựng các vùng sản xuất nông sản tập trung. Tiếp tục đẩy mạnh tăng năng suất cây trồng, vật nuôi, tăng năng suất ruộng đất, đồng thời chú ý tới tăng năng suất lao động, giảm chi phí sản xuất trên một đơn vị nông sản.
Hoàn thiện cơ cấu sản xuất nông nghiệp theo hƣớng phát triển toàn diện trên cơ sở chuyên môn hóa, tập trung hóa trong từng ngành, từng vùng sản xuất nông nghiệp. Phát triển công nghệ chế biến nông, lâm, thủy sản. Xây dựng các vùng nguyên liệu vững chắc, nâng cao chất lƣợng sản phẩm chế biến. Xây dựng các loại hình kinh tế phù hợp trong nông nghiệp.
Thực hiện một số chính sách thúc đẩy phát triển nông nghiệp. Bảo vệ môi trƣờng sinh 7 thái trong nông nghiệp theo hƣớng phát triển nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp sạch. Ngoài những tác phẩm, bài viết và tác giả đã nêu ở trên, có nhiều bài viết với nhiều cách tiếp cận khác nhau đã nêu nhiều vấn đề về lý luận và những nội dung cơ bản của phát triển nông nghiệp qua các giai đoạn mới và hội nhập kinh tế quốc tế đã góp phần giải quyết những vấn đề thực tiễn của phát triển nông nghiệp tại Việt Nam nói chung và một số vùng, địa phƣơng nói riêng. Tuy nhiên, trên góc độ tổng kết và hệ thống hóa các vấn đề lý luận và nội dung của Phát triển nông nghiệp trên địa bàn huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh hiện nay vẫn chƣa có công trình nào nguyên cứu hoàn chỉnh về vấn đề này.
Vì vậy, tác giả đã kế thừa và chọn lọc những công trình đã nguyên cứu ở trên và các nguyên cứu khác để thực hiện đề tài này. 8 CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP 1. KHÁI QUÁT VỀ NÔNG NGHIỆP 1. Một số khái niệm a.
Nông nghiệp Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất chủ yếu của nền kinh tế. Theo nghĩa hẹp, ngành nông nghiệp gồm hai lĩnh vực trồng trọt và chăn nuôi, theo nghĩa rộng ngành nông nghiệp bao gồm ba lĩnh vực là nông nghiệp, lâm nghiệp và ngƣ nghiệp. Trong quá trình phát triển, nông nghiệp đã đi từ phƣơng thức sản xuất tự cung tự cấp, tiến tới một nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa và phát triển cao để trở thành một nền nông nghiệp thƣơng mại hóa có phạm vi không chỉ một quốc gia mà phát triển trên phạm vi toàn cầu. Nông nghiệp tự cung tự cấp là hình hình ngƣời nông dân hay cộng đồng nông nghiệp tự sản xuất để đáp ứng nhu cầu lƣơng thực, thực phẩm, xây dựng nhà cửa và sinh sống mà không cần đến các hoạt động mua bán trên thị trƣờng.
Đặc điểm của nó là gia đình thống trị, quyết định sản xuất cái gì hoàn toàn phụ thuộc vào sự đáp ứng đủ nhu cầu của gia đình trong hiện tại, dự trữ đủ lƣơng thực, thực phẩm cho đến mùa giáp hạt và nông nghiệp đƣợc xem là một sinh kế của gia đình và cộng đồng. Nông nghiệp hàng hóa là hình thức sản xuất lấy việc trao đổi hay mua bán nông sản trên thị trƣờng làm mục tiêu để phát triển. Nông nghiệp hàng hóa xuất hiện khi có sự phân công lao động xã hội và sản phẩm nông nghiệp không những đủ cung cấp cho ngƣời sản xuất mà còn dƣ thừa để trao đổi. Xét về quy mô và phạm vi, nông nghiệp hàng hóa ở mức thấp của quá trình thƣơng mại hóa trong nông nghiệp.
Nông nghiệp hàng hóa vẫn còn là một 9 sinh kế của gia đình và có thu nhập nhờ bán đƣợc nông sản dƣ thừa ra thị trƣờng. Nông nghiệp thƣơng mại hóa là nền nông nghiệp đạt ở mức cao và phạm vi rộng hơn so với nông nghiệp hàng hóa về cả lực lƣợng sản xuất và quy mô thị trƣờng. Sự tác động của khoa học và công nghệ, sự phát triển của giao thông vận tải đã liên kết mọi miền, mọi quốc gia làm cho sản xuất nông nghiệp và kinh doanh nông sản đƣợc chuyên môn hóa và phân công lao động xã hội phát triển. Quá trình thƣơng mại hóa nông nghiệp luôn là sự hình thành và phát triển các hoạt động kinh doanh nông sản, liên kết các khâu từ sản xuất, thu mua, chế biến, xuất khẩu, vận tải đến bàn ăn của ngƣời tiêu dùng.
Trồng trọt là ngành sử dụng đất đai và cây trồng làm nguyên liệu chính để sản xuất ra lƣơng thực, thực phẩm, nguyên liệu cho công nghiệp, đáp ứng các yêu cầu về vui chơi giải trí, tạo cảnh quan (vƣờn hoa, công viên…).