CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ DỰ ÁN ĐẦU TƯ VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ DỰ ÁN ÐẦU TƯ TRONG GIAI ĐOẠN THỰC HIỆN ĐẦU TƯ 1.1 Tổng quan về dự án và quản lý dự án thủy lợi trong giai đoạn thực hiện đầu tư 1.Tổng quan về dự án 1. Khái niệm về dự án: - Theo Ngân hàng thế giới: “Dự án là tổng thể những chính sách, hoạt động và chi phí liên quan với nhau được thiết kế nhằm đạt được những kết quả nhất định trong thời gian nhất định”. - Theo Luật đấu thầu số 61/2005: “Dự án là tập hợp các đề xuất để thực hiện một phần hay toàn bộ công việc nhằm đạt được mục tiêu hay yêu cầu nào đó trong một thời gian nhất định dựa trên nguồn vốn xác định” - Theo tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN ISO 9000:2000): “Dự án là một quá trình đơn nhất, gồm một tập hợp các hoạt động có phối hợp và kiểm soát, có thời hạn bắt đầu vào kết thúc, được tiến hành để đạt được mục tiêu phù hợp với các yêu cầu quy định, bao gồm cả các ràng buộc về thời gian, chi phí và nguồn lực” - Theo luật đầu tư số 59/2005/QH11 ngày 29/11/2005: “Dự án đầu tư là tập hợp các đề xuất bỏ vốn trung và dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tư trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định. Phân loại dự án đầu tư a) Theo thẩm quyền quyết định hoặc cấp giấy phép đầu tư - Đối với dự án đầu tư trong nước: Để tiến hành quản lý và phân cấp quản lý, tuỳ theo tính chất của dự án và quy mô đầu tư, các dự án đầu tư trong nước được phân theo 3 nhóm A, B và C.
Có hai tiêu thức được dùng để phân nhóm là dự án thuộc ngành kinh tế nào? Dự án có tổng mức đầu tư lớn hay nhỏ ? Trong các nhóm thì nhóm A là quan trọng nhất, phức tạp nhất, còn nhóm C là ít quan trọng, ít phức tạp hơn cả. Tổng mức vốn nêu trên bao gồm cả tiền chuyển quyền sử dụng đất, mặt nước, mặt biển, thềm lục địa. - Đối với các dự án đầu tư nước ngoài: gồm 3 loại dự án đầu tư nhóm A, B và loại được phân cấp cho địa phương. b) Phân theo trình tự lập và trình duyệt dự án: 10 Theo trình tự (hoặc theo bước) lập và trình duyệt, các dự án đầu tư được phân ra hai loại: - Nghiên cứu tiền khả thi: Hồ sơ trình duyệt của bước này gọi là báo cáo nghiên cứu tiền khả thi.
- Nghiên cứu khả thi: Hồ sơ trình duyệt của bước này gọi là báo cáo nghiên cứu khả thi. c) Theo nguồn vốn: Dự án đầu tư bằng vốn trong nước (vốn cấp phát, tín dụng, các hình thức huy động khác) và dự án đầu tư bằng nguồn vốn nước ngoài (nguồn viện trợ nước ngoài ODA và nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài). Thuộc tính của dự án: - Dự án có mục đích, kết quả rõ ràng: Mỗi dự án gồm tập hợp các nhiệm vụ cần thực hiện, mỗi nhiệm vụ này khi thực hiện sẽ thu được kết quả độc lập và tập hợp các kết quả tạo thành kết quả chung của dự án. Các kết quả này có thể theo dõi, đánh giá bằng hệ thống các tiêu chí rõ ràng.
Nói các khác, dự án bao gồm nhiều hợp phần khác nhau được quản lý, thực hiện trên cơ sở đảm bảo thống nhất các chỉ tiêu về thời gian, nguồn lực (chi phí) và chất lượng. - Thời gian tồn tại của dự án có tính hữu hạn: dự án trải qua các giai đoạn: hình thành, phát triển và kết thúc. Khi dự án kết thúc hoàn thành, kết quả dự án được chuyển giao, đưa vào khai thác sử dụng. - Sản phẩm của dự án mang tính đơn chiếc, độc đáo: Mỗi dự án sau khi hoàn thành thì kết quả là duy nhất.
- Dự án liên quan đến nhiều bên và có sự tương tác phức tạp: Mỗi dự án có sự tham gia của chủ đầu tư, các nhà tư vấn, nhà thầu thi công, cơ quan quản lý nhà nước đối với các dự án dử dụng nguồn vốn có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước. - Dự án bị hạn chế bởi các nguồn lực: Chủ yếu là nguồn lực về chi phí điều này tác động rất lớn đến tiến độ của dự án. Hiện nay rất nhiều dự án bị bỏ hoang, dừng thi công do thiếu vốn. - Dự án luôn có tính bất định và rủi ro: Thời gian xây dựng của mỗi dự án kéo dài trung bình từ 3 năm đến 5 năm nên chịu ảnh hưởng của các yếu tố thị trường như giá nhân công, giá vật liệu.
11 - Tính trình tự trong quá trình thực hiện dự án: Một dự án xây dựng đi theo ba bước: giai đoạn chuẩn bị đầu tư, giai đoạn thực hiện đầu tư, giai đoàn kết thúc đưa dự án vào khai thác sử dụng. Các phương diện chính của dự án: a) Phương diện thời gian: Chu trình của một dự án bao gồm nhiều giai đoạn khác nhau, thường bao gồm ba giai đoạn chính sau: - Giai đoạn xác định, nghiên cứu và lập dự án: Đây là giai đoạn quyết định hành động hay không hành động, triển khai hay không triển khai dự án. Giai đoạn này mang tính chất nghiên cứu. Từ ý tưởng xuất hiện do một nhu cầu nào đó đến việc luận chứng về mọi khía cạnh để biến ý tưởng thành thực tế là cả một công việc khó khăn phức tạp.
Đối với những dự án đầu tư lớn, giai đoạn này giữ vị trí then chốt, đòi hỏi một đội ngũ chuyên gia giỏi, làm việc có trách nhiệm. Trong giai đoạn xác định, nghiên cứu và lập dự án, các công việc cần được tiến hành một cách thận trọng, không vội vã với các lý do: + Ảnh hưởng quyết định đến sự thành bại của dự án. + Tính chất phức tạp của công việc + Kinh phí cho giai đoạn này chưa nhiều. Gia tăng thời gian và kinh phí cho giai đoạn này là cần thiết, góp phần quan trọng làm giảm rủi ro cho dự án.
+ Khả năng tác động của các chủ thể quản lý tới các đặc tính cuối cùng sản phẩm dự án là cao nhất. * Đối với các dự án đầu tư, giai đoạn này là giai đoạn chuẩn bị đầu tư gồm nghiên cứu đánh giá cơ hội đầu tư; Nghiên cứu và lập dự án tiền khả thi và khả thi và thẩm định và phê duyệt dự án ở các cấp quản lý. Sản phẩm của giai đoạn này là một bản dự án đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Trong đầu tư, đó là luận chứng kinh tế – kỹ thuật hay dự án khả thi.
- Giai đoạn triển khai thực hiện dự án: Trong giai đoạn này các nguồn lực được sử dụng, các chi phí phát sinh, đối tượng dự án được từng bước hình thành. Yêu cầu đặt ra trong giai đoạn này là tiến hành công việc nhanh, đảm bảo chất lượng công việc và chi phí trong khuôn khổ đã được xác định bởi vì các chi phí chủ yếu diễn ra ở giai đoạn này, chất lượng dự án phụ thuộc vào kết quả hoạt động trong 12 giai đoạn này và đây là giai đoạn quyết định việc đưa dự án vào khai thác sử dụng để thực hiện mục tiêu dự án. Đối với các dự án đầu tư, giai đoạn này được gọi là giai đoạn thực hiện đầu tư. Nội dung giai đoạn này bao gồm: + Xin giao hoặc thuê đất theo quy định của Nhà nước (nếu có xây dựng) + Chuẩn bị mặt bằng xây dựng (nếu có xây dựng) + Tổ chức tuyển chọn tư vấn, khảo sát, thiết kế, giám định kỹ thuật và chất lượng công trình (đấu thầu tuyển chọn tư vấn).
+ Thẩm định thiết kế công trình + Tổ chức đấu thầu, mua sắm thiết bị, thi công xây lắp + Xin giấy phép xây dựng và giấy phép khai thác tài nguyên (nếu có xây dựng) + Ký kết hợp đồng với nhà thầu để thực hiện dự án + Thi công xây lắp công trình + Nghiệm thu công trình và thanh quyết toán - Giai đoạn khai thác dự án: Đây là giai đoạn hoạt động dự án. Giai đoạn này được bắt đầu từ khi kết thúc thực hiện dự án đến hết thời kỳ hoạt động của dự án. Trong giai đoạn hoạt động, dự án bắt đầu sinh lợi. Đối với các dự án đầu tư theo nguyên tắc hoàn trả trực tiếp, đây là thời kỳ sản xuất kinh doanh, thời kỳ thu hồi vốn.
Đối với các dự án khác, đây là thời kỳ khai thác dự án. Thời kỳ này đóng vai trò quyết định cuối cùng của toàn bộ chu kỳ dự án. Lợi ích của dự án chỉ được thực hiện ở giai đoạn này. * Về phương diện thời gian, dự án cần xem như một quá trình gồm ba giai đoạn kế tiếp và chi phối lẫn nhau.
Mỗi giai đoạn đều có vị trí quan trọng và đều diễn ra trong một thời gian xác định. Xuất phát từ yêu cầu về kết quả cuối cùng của dự án, giai đoạn đầu cần tiến hành một cách thận trọng vì đây là việc đưa ra một quyết định quản lý quan trọng. Giai đoạn hai cần được triển khai nhanh nhằm rút ngắn thời gian thực hiện, đưa dự án vào khai thác đem lại hiệu quả. b) Phương diện kinh phí của dự án: Kinh phí của dự án được biểu hiện bằng tiền của các nguồn lực cần thiết cho hoạt động của dự án.
Đối với các dự án đầu tư, phương diện kinh phí của dự án là 13 phương diện tài chính mà trung tâm là vấn đề vốn đầu tư và hiệu quả sử dụng vốn đầu tư. Vốn đầu tư cần được tính chính xác và quản lý chặt chẽ. Đủ kinh phí dự án mới được thực hiện và hoạt động theo tiến độ đã đề ra. Kinh phí của dự án luôn luôn là thành tố quan trọng tạo nên hiệu quả kinh tế các dự án, đặc biệt là các dự án đầu tư.
Đối với mỗi dự án, điều quan trọng không chỉ xác định chính xác lượng kinh phí cần thiết mà còn cần xác định nguồn kinh phí của nó. Mỗi dự án có thể được đảm bảo bằng một, một số hoặc nhiều nguồn kinh phí khác nhau. Cơ cấu nguồn kinh phí là một nhân tố phản ánh khả năng an toàn của dự án. Phương diện kinh phí của dự án cần được xem xét ở cả ba giai đoạn.
Giai đoạn đầu xác định số lượng và nguồn kinh phí cần thiết cho các hoạt động của hai giai đoạn còn lại.