CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG VÀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH 1. Một số khái niệm 1. Khái niệm về chất lượng và quản lý chất lượng 1. Chất lượng và các đặc điểm của chất lượng Chất lượng sản phẩm là một khái niệm đã xuất hiện từ lâu và được sử dụng rất phổ biến trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người.
Tuy nhiên, để hiểu rõ và đầy đủ về khái niệm chất lượng sản phẩm thì thật không hề đơn giản. Bởi đây là một phạm trù phức tạp phản ánh tổng hợp các nội dung kỹ thuật, kinh tế và xã hội. Tùy theo đối tượng sử dụng từ “chất lượng” sẽ có ý nghĩa khác nhau. Người sản xuất coi chất lượng là điều họ phải làm để đáp ứng các quy định và các yêu cầu do khách hàng đặt ra và để được khách hàng chấp nhận.
Chất lượng được so sánh với chất lượng của đối thủ cạnh tranh và đi kèm theo các chi phí, giá cả. Do con người và nền văn hóa ở các nơi trên thế giới là khác nhau, nên cách hiểu của họ về chất lượng cũng khác nhau. Nói như vậy nhưng không phải chất lượng là một khái niệm quá trừu tượng đến mức người ta không thể có một cách diễn giải tương đối thống nhất, mặc dù khái niệm này sẽ còn luôn luôn thay đổi. Theo TCVN 5814:1994: “Chất lượng là tập hợp các đặc tính của một thực thể có liên quan đến khả năng của thực thể đó thỏa mãn những nhu cầu đã nêu ra và nhu cầu về tiềm ẩn”.
Theo tiêu chuẩn của Trung Quốc (GB/T 10300.1-88): “Chất lượng là tổng hòa đặc trưng, đặc tính của sản phẩm, quá trình hoặc dịch vụ thỏa mãn quy định hoặc đáp ứng yêu cầu (nhu cầu)”. Tổ chức Châu Âu về kiểm soát chất lượng định nghĩa như sau: “Chất lượng là mức phù hợp của sản phẩm đối với yêu cầu của người tiêu dùng”. Tổ chức Quốc tế về tiêu chuẩn ISO 9000:2000 định nghĩa về chất lượng như sau: “Chất lượng là tập hợp các đặc tính của một thực thể tạo cho thực thể đó khả năng thỏa mãn những nhu cầu đã được công bố hoặc còn tiềm ẩn”. -2- Qua các khái niệm trên ta có thể thấy một số đặc điểm của khái niệm chất lượng như sau: - Chất lượng được đo bởi sự thỏa mãn nhu cầu.
Nếu một sản phẩm vì lý do nào đó mà không thỏa mãn được nhu cầu thì phải bị coi là có chất lượng kém, cho dù trình độ công nghệ để chế tạo ra sản phẩm đó có thể rất hiện đại. - Do chất lượng được đo bởi sự thỏa mãn nhu cầu, mà nhu cầu luôn luôn biến động nên chất lượng cũng luôn luôn biến động theo thời gian, không gian và điều kiện sử dụng. - Khi đánh giá chất lượng của một đối tượng nào đó, ta phải xét và chỉ xét đến mọi đặc tính của đối tượng có liên quan đến sự thỏa mãn những nhu cầu cụ thể. Các nhu cầu này không chỉ từ phía khách hàng mà còn từ các bên liên quan, ví dụ như các yêu cầu mang tính pháp chế, nhu cầu của cộng đồng xã hội.
- Nhu cầu có thể được công bố rõ ràng dưới dạng các quy định, tiêu chuẩn nhưng cũng có nhu cầu không thể miêu tả rõ ràng, người sử dụng chỉ có thể cảm nhận chúng, hoặc có khi chỉ phát hiện được chúng trong quá trình sử dụng. - Chất lượng không chỉ là thuộc tính của sản phẩm, hàng hóa thông dụng mà ta vẫn sử dụng hằng ngày. Chất lượng có thể áp dụng cho một hệ thống, một quá trình thực hiện một sản phẩm, một dịch vụ. Như vậy, những định nghĩa và quan niệm trên cho thấy chất lượng của sản phẩm vừa có tính chủ quan, vừa có tính khách quan.
Một cách tổng quát có thể coi chất lượng là sự phù hợp với nhu cầu. Ngoài nhu cầu của khách hàng, của người sử dụng sản phẩm, còn cần quan tâm đến nhu cầu của xã hội, thể hiện ở sự tuân thủ luật pháp và ý nguyện của cộng đồng. Sự phù hợp này thể hiện trên cả ba phương diện đó là: - Khả năng sử dụng; - Giá cả thỏa mãn mong đợi; - Đúng thời điểm. Như vậy chất lượng không phải là một giá trị tuyệt đối, nó có những đặc tính có thể quan sát thấy và đo lượng được để định lượng giá trị, nhưng cũng có những đặc tính chỉ có thể cảm nhận thấy mà không thể đo lường được.
Quản lý chất lượng -3- Quản lý chất lượng là các hoạt động có phối hợp để định hướng và kiểm soát một tổ chức về chất lượng nhằm đảm bảo đáp ứng được yêu cầu về chất lượng mà khách hàng đặt ra. Việc định hướng và kiểm soát về chất lượng nói chung bao gồm các công việc như lập chính sách chất lượng, mục tiêu chất lượng, hoạch định chất lượng, kiểm soát chất lượng, đảm bảo chất lượng và cải tiến chất lượng. Phương châm chất lượng và mục tiêu chất lượng - Phương châm chất lượng (Quality Policy) là sự thể hiện tôn chỉ và phương hướng chất lượng chung của tổ chức do người đứng đầu tổ chức khởi xướng và khống chế và quyết định. - Mục tiêu chất lượng (Quality Objective) là sự cụ thể hóa phương châm chất lượng theo các yếu tố chất lượng mấu chốt, như tính công năng sử dụng, tính phù hợp, độ an toàn, độ tin cậy, sự thỏa mãn,.
Quản lý chất lượng và hệ thống chất lượng - Quản lý chất lượng (Quality Management) là toàn bộ hoạt động của chức năng quản lý để lập và thực thi phương châm chất lượng, bao gồm việc xác định chính sách chất lượng, mục tiêu, trách nhiệm và thực hiện chúng bằng các biện pháp như lập kế hoạch chất lượng, kiểm soát chất lượng, bảo đảm chất lượng và cải tiến chất lượng trong khuôn khổ của hệ thống QLCL. - Hệ thống chất lượng (Quality System): Để thực hiện QLCL, một số tổ chức phải thiết lập và vận hành hệ thống chất lượng, bao gồm cơ cấu tổ chức, thủ tục, quá trình và nguồn lực cần thiết, trong đó cơ cấu tổ chức là những quy định trách nhiệm, quyền hạn và mối quan hệ lẫn nhau của các bộ phận trong tổ chức. Hệ thống chất lượng được thiết kế chủ yếu nhằm thỏa mãn nhu cầu quản lý nội bộ của tổ chức. Kế hoạch chất lượng Kế hoạch chất lượng (Quality Plan): hay còn gọi là phương án chất lượng, là tài liệu nêu biện pháp thực hiện, nguồn lực và trình tự hoạt động gắn liền với chất lượng cho một sản phẩm, hợp đồng hay một dự án cụ thể.
Đảm bảo chất lượng Đảm bảo chất lượng (Quality Assurance) là toàn bộ hoạt động có kế hoạch, có hệ thống, có phương pháp, có quy trình chất lượng nhằm duy trì chất lượng sản -4- phẩm hoặc dịch vụ thỏa mãn yêu cầu quy định, bao gồm đảm bảo chất lượng nội bộ, đảm bảo chất lượng theo yêu cầu từ phía ngoài. Kiểm soát chất lượng Kiểm soát chất lượng (Quality Control) là các hoạt động và kỹ thuật tác nghiệp nhằm theo dõi một quá trình theo một kế hoạch đã được định trước, đồng thời loại trừ những nguyên nhân làm hoạt động không thỏa mãn ở mọi giai đoạn của vòng tròn QLCL để đạt hiệu quả kinh tế. Khống chế chất lượng Khống chế chất lượng (Quality Domination) là việc sử dụng các công cụ và biện pháp kỹ thuật hữu hiệu để đạt yêu cầu chất lượng. Mục đích của nó là để khống chế các quá trình và trình tự công việc trong quá trình hình thành chất lượng, thực hiện phương châm “lấy dự phòng làm chính” nhằm đạt yêu cầu chất lượng quy định, nâng cao hiệu quả kinh tế.
Một số phương pháp quản lý chất lượng a. Kiểm tra chất lượng (Quality Inspection) Đây là phương pháp kiểm tra chất lượng bằng cách phân loại, sàng lọc các sản phẩm đã được chế tạo bằng các biện pháp đo đạc, kiểm định, đối chiếu với các tiêu chuẩn, chuẩn mực về chất lượng. Đặc điểm của phương pháp này là nhiều khi phải xử lý “việc đã rồi”, do đó gây lãng phí, khó sửa chữa. Kiểm soát chất lượng (Quality Control) Là phương pháp kiểm soát toàn bộ mọi yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình hình thành chất lượng thông qua các hoạt động kỹ thuật và tác nghiệp thích hợp để đạt được một chuẩn mực chất lượng, bao gồm kiểm soát các yếu tố: con người, phương pháp và quá trình sản xuất, nguyên vật liệu đầu vào, quản lý và sử dụng máy móc thiết bị, môi trường và mặt bằng sản xuất.
Mục đích chính của hoạt động kiểm soát là đảm bảo làm đúng, làm tốt ngay từ đầu của mọi quá trình. Đảm bảo chất lượng (Quality Assurance) Đảm bảo chất lượng là toàn bộ các hoạt động có kế hoạch, có tổ chức trong hệ thống chất lượng nhằm đáp ứng các yêu cầu đặt ra về chất lượng sản phẩm, bao gồm đảm bảo chất lượng nội bộ và đảm bảo chất lượng bên ngoài. Kiểm soát chất lượng toàn diện (Total Quality Control) -5- Kiểm soát chất lượng toàn diện là một phương pháp quản lý và khống chế chất lượng dựa trên cơ sở: - Nỗ lực hợp tác ở tất cả các khâu, các bộ phận. - Cùng nhau hướng vào duy trì và cải tiến chất lượng.
- Tiết kiệm chi phí, thỏa mãn mong đợi của khách hàng. Quản lý chất lượng toàn diện là cách tiếp cận kiểu mới về QLCL. Đó là quản trị đồng bộ một công cuộc kinh doanh hoặc hoạt động của một tổ chức nhằm đảm bảo chất lượng dịch vụ và thỏa mãn đầy đủ nhu cầu của khách ở mọi công đoạn. Sản phẩm xây dựng và chất lượng sản phẩm xây dựng 1.
Khái niệm sản phẩm xây dựng Sản phẩm xây dựng là các CTXD đã hoàn chỉnh, là kết quả tổng hợp và kết tinh sản phẩm của nhiều ngành sản xuất. Theo Điều 3 khoản 2 của Luật Xây dựng: “Công trình xây dựng là sản phẩm được tạo thành bởi sức lao động của con người, vật liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình, được liên kết định vị với đất, có thể bao gồm phần dưới mặt đất, phần trên mặt đất, phần dưới mặt nước và phần trên mặt nước, được xây dựng theo thiết kế. Công trình xây dựng bao gồm: Công trình xây dựng dân dụng, công trình công nghiệp, giao thông, thủy lợi, năng lượng và các công trình khác”. Khái niệm về chất lượng công trình xây dựng a.
Chất lượng công trình xây dựng Chất lượng của CTXD cũng có những đặc tính chất lượng của sản phẩm nói chung đã được nêu ở trên. Qua những định nghĩa, những quan niệm về chất lượng đều thấy thể hiện rõ những điểm chung về chất lượng sản phẩm.