Mở đầu Phần 2. Cơ sở lý luận và thực tiễn Phần 3. Phương pháp nghiên cứu Phần 4. Kết quả nghiên cứu Phần 5.
Kết luận và kiến nghị 4 PHẦN 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TĂNG CƯỜNG LIÊN KẾT TRONG CHUỖI GIÁ TRỊ CHÈ 2. Một số khái niệm 2. Liên kết và các nguyên tắc liên kết a.
Liên kết Theo từ điển ngôn ngữ học (1992) thì liên kết là kết lại với nhau từ nhiều thành phần hoặc tổ chức riêng rẽ. Liên kết (tiếng Anh là “integration”) trong hệ thống thuật ngữ kinh tế nó có nghĩa là sự hợp nhất, sự phối hợp hay sát nhập của nhiều bộ phận thành một chỉnh thể. Trước đây khái niệm này được biết đến với tên gọi là nhất thể hoá và gần đây mới gọi là liên kết. Theo Từ điển Kinh tế học hiện đại (David.Pearce) thì “liên kết kinh tế chỉ tình huống khi mà các khu vực khác nhau của nền kinh tế thường là khu vực công nghiệp và nông nghiệp hoạt động phối hợp với nhau một cách có hiệu quả và phụ thuộc lẫn nhau, là một yếu tố của quá trình phát triển.
Điều kiện này thường đi kèm sự tăng trưởng bền vững.” Tác giả Phạm Thị Minh Nguyệt (2006) cho rằng “Liên kết kinh tế chính là những phương thức hoạt động của các hình thức hợp tác kinh tế, liên kết kinh tế phát triển ngày càng phong phú, đa dạng theo sự phát triển của hợp tác kinh tế; tất cả các mối quan hệ kinh tế được hình thành giữa hai hay nhiều đối tác với nhau dựa trên những hợp đồng đã ký kết với những thoả thuận nhất định được gọi là liên kết kinh tế”. Theo quyết định số 38/1989/QĐ – HĐBT ngày 4 tháng 4 năm 1989 của Hội đồng bộ trưởng về liên kết kinh tế trong sản xuất lưu thông và dịch vụ và các văn bản của nhà nước thì liên kết kinh tế được hiểu là những hình thức phối hợp hoạt động do các đơn vị kinh tế tiến hành để cùng nhau bàn bạc và đề ra các chủ trương, biện pháp có liên quan đến công việc sản xuất kinh doanh của mình nhằm thúc đẩy sản xuất theo hướng có lợi nhất. Như vậy liên kết kinh tế là sự biểu hiện của các hình thức hợp tác, nó phản ánh mối quan hệ về hợp tác và phân công lao động trong các quá trình sản xuất 5 xã hội của các ngành, các địa phương, các đơn vị kinh tế, các thành phần kinh tế. Liên kết kinh tế là sự hợp tác, phối hợp giữa các chủ thể kinh tế trên cơ sở tự nguyện nhằm thúc đẩy sản xuất kinh doanh theo hướng có lợi nhất.
Liên kết kinh tế có thể diễn ra trong mọi ngành sản xuất kinh doanh thu hút sự tham gia của tất cả các chủ thể kinh tế có nhu cầu của mọi thành phần kinh tế và không bị giới hạn bởi phạm vi địa lý. Các nguyên tắc trong liên kết Để các chủ thể tham gia liên kết đạt được mục tiêu phát triển bền vững, các liên kết phải đảm bảo một số nguyên tắc sau: Một là, phải đảm bảo sản xuất kinh doanh của các bên tham gia liên kết đều phát triển và có hiệu quả ngày càng tăng. Đây vừa là nguyên tắc, vừa là mục tiêu xuyên suốt của mọi liên kết. Dù được tiến hành dưới hình thức và mức độ nào thì các quan hệ kinh tế cũng phải đáp ứng được yêu cầu phát triển bền vững của các , bên tham gia (Dương Bá Phượng, 1995).
Hai là, phải đảm bảo nguyên tắc tự nguyện giữa các bên tham gia liên kết. Các liên kết chỉ thành công và đạt hiệu quả khi được xây dựng dựa trên cơ sở tự nguyện của các bên tham gia để giải quyết những khó khăn hoặc tìm kiếm lợi ích cao hơn thông qua liên kết. Chỉ khi tự nguyện tham gia các chủ thể liên kết mới phát huy hết mọi năng lực nội tại của mình, xây dựng lên mối quan hệ hiệu quả, bền chặt, vì lợi ích chung, đồng thời đem đến khả năng cùng chịu trách nhiệm về những thất bại hay rủi ro trong liên kết. Mọi liên kết được thiết lập mang tính hình thức hay là kết quả của những quyết định mang tính chủ quan, áp đặt sẽ không thể tồn tại và không thể đem lại lợi ích cho các bên tham gia (Dương Bá Phượng, 1995).
Ba là, phải đảm bảo sự thống nhất hài hòa lợi ích kinh tế giữa các bên tham gia liên kết. Trong liên kết kinh tế thì lợi ích kinh tế là động lực thúc đẩy, là chất keo gắn kết lâu dài cho các bên tham gia. Việc chia sẻ hài hòa lợi ích có tầm quan trọng đặc biệt quyết định sự bền vững của các liên kết nên đòi hỏi phải tìm ra một cơ chế giải quyết thích hợp. Cơ chế đó phải tập trung vào các yêu cầu cơ bản và cấp thiết nhất.
Trong từng mối liên kết, từng mặt hàng mà có hình thức và phương pháp giải quyết lợi ích khác nhau. Ngoài cơ chế đó cần đảm bảo cho các bên tham gia được bình đẳng với nhau về quyền lợi cũng như trách nhiệm (Dương Bá Phượng, 1995). 6 Bốn là, phải được thực hiện trên cơ sở những ràng buộc pháp lý giữa các bên tham gia liên kết và thông qua hợp đồng kinh tế. Hợp đồng kinh tế là khế ước, là những thỏa thuận, những điều khoản ràng buộc trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền lợi giữa các bên tham gia làm ăn với nhau, được pháp luật thừa nhận và bảo hộ.
Trong nền kinh tế thị trường và Nhà nước pháp quyền, mọi hoạt động kinh tế đều phải tiến hành trên cơ sở pháp luật Nhà nước cho phép, đồng thời được pháp luật bảo hộ những tranh chấp giữa các bên quan hệ làm ăn với nhau. Cho nên để có những căn cứ pháp lý cho các cơ quan pháp luật phán quyết những tranh chấp giữa các quan hệ kinh tế với nhau đều phải có “khế ước” hay “hợp đồng kinh tế” được ký kết theo đúng pháp luật. Đối với hoạt động liên kết kinh tế là những mối quan hệ kinh tế ổn định, thường xuyên, lâu dài lại càng cần phải được tiến hành thông qua “hợp đồng kinh tế”. Nó còn là những căn cứ để các bên tiến hành đàm phán giải quyết những bất đồng, tranh chấp nhỏ xảy ra giữa các bên, làm cho các quan hệ liên kết ngày càng bền chặt hơn.
Việc thực hiện tốt các hợp đồng kinh tế sẽ tạo thuận lợi cho các bên tham gia liên kết thực hiện tốt kế hoạch sản xuất kinh doanh của mình (Dương Bá Phượng, 1995). Năm là, đối với các tổ chức liên kết kinh tế, cần phải được tiến hành hoạt động thông qua “điều lệ” của tổ chức liên kết kinh tế đó. “Điều lệ” là những qui định về tôn chỉ mục đích, nội dung và cơ chế hoạt động của một tổ chức được tự nguyện sáng lập giữa các thành viên. Nó qui định những quyền hạn, quyền lợi, trách nhiệm, nghĩa vụ của các thành viên gia tổ chức, những điều được phép và không được phép để đảm bảo sự thống nhất hài hòa lợi ích chung của các thành viên và sự tồn tại lâu dài, phát triển của tổ chức.
Có thể nói, nó là cơ sở pháp lý để ràng buộc các thành viên tham gia tổ chức lại với nhau (Dương Bá Phượng, 1995). Chuỗi giá trị Chuỗi giá trị, hay còn được biết đến là chuỗi giá trị phân tích, là một khái niệm từ quản lý kinh doanh đã được Micheal Porter mô tả và phổ cập lần đầu tiên vào năm 1985 trong một cuốn sách về phân tích lợi thế cạnh tranh của ông như sau: “Chuỗi giá trị là chuỗi của các hoạt động của một công ty hoạt động trong một ngành cụ thể. Sản phẩm đi qua tất cả các hoạt động của chuỗi theo thứ tự và tại mỗi hoạt động sản xuất thu được một số giá trị nào đó. Chuỗi các hoạt động mang lại nhiều giá trị gia tăng hơn tổng giá trị gia tăng của các hoạt động cộng lại”.
Tiếp đó, nhà nghiên cứu Kaplins Rapheal đã đưa ra khái niệm về chuỗi giá trị trong phân tích toàn cầu hóa: “Chuỗi giá trị là cả loạt những hoạt động cần thiết để biến một sản phẩm hoặc một dịch vụ từ lúc còn là khái niệm, thông qua 7 các giai đoạn sản xuất khác nhau (bao gồm một kết hợp giữa sự biến đổi vật chất và đầu vào các dịch vụ sản xuất khác nhau), đến khi phân phối đến tay người tiêu dùng cuối cùng và vứt bỏ sau khi đã sử dụng” và một chuỗi giá trị tồn tại khi tất cả những người tham gia trong chuỗi hoạt động để tạo ra tối đa giá trị cho chuỗi. Như vậy, ta có thể giải thích định nghĩa về chuỗi giá trị theo nghĩa hẹp hoặc nghĩa rộng. Trong nghĩa hẹp, một chuỗi giá trị bao gồm các hoạt động thực hiện trong một công ty để sản xuất ra một sản phẩm nhất định. Tất cả các hoạt động từ thiết kế, quá trình mang vật tư đầu vào, sản xuất, phân phối, marketing bán hàng, thực hiện các dịch vụ hậu mãi đã tạo thành một chuỗi kết nối người sản xuất với người tiêu dùng.
Hơn nữa, mỗi hoạt động lại bổ sung giá trị cho thành phẩm cuối cùng. Chuỗi giá trị theo nghĩa rộng là một phức hợp những hoạt động do nhiều người tham gia khác nhau thực hiện (người sản xuất sơ cấp, người chế biến, thương nhân, người cung cấp dịch vụ) để biến một nguyên liệu thô và chuyển dịch theo các mối liên kết với các doanh nghiệp khác trong kinh doanh, lắp ráp, chế biến,… Các tiếp cận theo nghĩa rộng không xem xét đến các hoạt động do một doanh nghiệp duy nhất tiến hành, mà nó xem xét cả các mối liên kết ngược xuôi cho đến khi nguyên liệu thô được sản xuất và kết hợp với người tiêu dùng cuối cùng. Liên kết trong chuỗi giá trị Liên kết trong chuỗi giá trị là chỉ tình huống khi mà các tác nhân khác nhau của chuỗi giá trị hoạt động phối hợp với nhau một cách có hiệu quả và phụ thuộc lẫn nhau về những hoạt động cần thiết để biến một sản phẩm hoặc một dịch vụ từ lúc còn là khái niệm, thông qua các giai đoạn sản xuất khác nhau (bao gồm một kết hợp giữa sự biến đổi vật chất và đầu vào các dịch vụ sản xuất khác nhau), đến khi phân phối đến tay người tiêu dùng cuối cùng và vứt bỏ sau khi đã sử dụng.