CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LIÊN KẾT TRONG THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI 1. TỔNG QUAN VỀ THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI 1. Một số khái niệm về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài a. Khái quát về FDI Tổ chức thương mại quốc tế (WTO) đưa ra định nghĩa FDI như sau: FDI xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó.
Phương diện quản lý là một khía cạnh để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác. Trong phần lớn các trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh. Trong trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay được gọi là “công ty mẹ” và các tài sản được gọi là “công ty con” hay “chi nhánh công ty”. [31] Tại Việt nam, theo Luật Đầu tư Việt Nam năm 2005 thì FDI được hiểu là việc các ĐTNN đưa vốn bằng tiền hoặc bất cứ hình thức tài sản nào vào Việt Nam để tiến hành hoạt động đầu tư và có tham gia quản lý hoạt động kinh doanh.
Ở đây hoạt động FDI có khác với các hình thức đầu tư nước ngoài khác là có sự trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư. Như vậy FDI được hiểu là hình thức đầu tư dài hạn của cá nhân hay của công ty nước này vào nước khác bằng cách thiết lập cơ sở sản xuất kinh doanh và có tham gia hoạt động quản lý nó. FDI cũng chính là một loại hình di chuyển vốn giữa các quốc gia. Đầu tư trực tiếp có thể là hợp tác kinh doanh hoặc thành lập công ty với 100% vốn nước ngoài.
Hợp tác kinh doanh có nghĩa là việc một hay nhiều nhà đầu tư nước ngoài cùng góp vốn với một hoặc nhiều đối tác Việt Nam trên cơ sở hợp đồng hoặc thành lập một công ty liên doanh. Theo đó các chủ Luan van 15 đầu tư phải đóng góp một phần vốn vào vốn pháp định của công ty liên doanh đó. Các thành viên tham gia góp vốn gọi là các sáng lập viên và đều có quyền tham gia quản lý doanh nghiệp ở các mức độ khác nhau tuỳ thuộc vào mức độ đóng góp vốn. Lợi nhuận của các nhà đầu tư phụ thuộc vào kết quả kinh doanh và được phân phối chia theo tỷ lệ vốn đóng góp.
- FDI có các đặc điểm sau: + FDI thường được thực hiện thông qua việc xây dựng doanh nghiệp mới, mua lại toàn bộ hoặc từng phần doanh nghiệp đang hoạt động hoặc sáp nhập các doanh nghiệp với nhau. + FDI không chỉ gắn liền với di chuyển vốn mà còn gắn liền với chuyển giao công nghệ, chuyển giao kiến thức và kinh nghiệm quản lý, tạo ra thị trường mới cho cả phía đầu tư và phía nhận đầu tư. + FDI ngày nay gắn liền với các hoạt động kinh doanh của công ty đa quốc gia (Multinational Corporations - MNCs) - Với các đặc điểm trên FDI có vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế của quốc gia cũng như của địa phương. Điều đó thể hiện việc đem lại nhiều lợi ích như: + Cơ hội tiếp xúc với công nghệ mới đối với các nước đang phát triển, góp phần tăng năng xuất lao độn cũng như khai thác được những thế mạnh của quốc gia cũng như của địa phương.
+ Là nhân tố kích thích cho sự tăng trưởng kinh tế của quốc gia và địa phương. + Tạo việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân. + Nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hoá, mở rộng thị trường và mở rộng quan hệ trong việc hội nhập kinh tế quốc tế. Do vậy đối với các nước đang phát triển thì FDI thực sự là cần thiết cho sự phát triển kinh tế, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế.
Khái quát về thu hút FDI Có nhiều cách tiếp cận trong lý thuyết về thu hút FDI, tiêu biểu là hai trường phái sau đây. Loewendahl (2001)[24], được dẫn trong Bartels and de Crombrugghe (2009) [16], tiếp cận thu hút đầu tư theo quá trình ra quyết định đầu tư của chủ đầu tư. Theo cách tiếp cận này, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài được hiểu là một quá trình marketing quốc tế trong đầu tư, trong đó các chính quyền địa phương phải nỗ lực để lôi kéo các nguồn lực của địa phương mình thông qua chính sách và thực thi chính sách để các nhà đầu tư tiềm năng biết đến quốc gia/địa phương như là một địa điểm đầu tư hấp dẫn, giúp các nhà đầu tư này hình thành ý đồ đầu tư, ra quyết định đầu tư và được cấp giấy phép đầu tư đồng thời giữ các nhà đầu tư hiện tại tiếp tục hoạt động kinh doanh và gia tăng đầu tư tại quốc gia/địa phương đó. Chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài được hiểu là hệ thống các nguyên tắc mà chính quyền của một quốc gia/địa phương vận dụng, các công cụ và biện pháp mà họ áp dụng nhằm tác động, lôi kéo và khuyến khích các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài đầu tư vốn vào quốc gia/địa phương mình theo các mục tiêu và định hướng đã định.
Cách tiếp cận thứ hai về thu hút FDI là cách tiếp cận của marketing địa phương trong thu hút đầu tư (place marketing in investment attraction) của Kotler và cộng sự (1993). Khác với quan điểm cho rằng quốc gia/địa phương là nơi cần vốn đầu tư và thu hút đầu tư, đó là việc nỗ lực thu hút đầu tư, nỗ lực của các cấp chính quyền, quan điểm này xem quốc gia/địa phương là một sản phẩm mang cơ hội đầu tư đối với khách hàng là các nhà đầu tư và thu hút đầu tư không chỉ gói gọn trong các nỗ lực của chính quyền mà là của một tập thể gồm chính quyền, các tổ chức và cá nhân của quốc gia/địa phương đó. Như vậy, chiến lược marketing hỗn hợp mà các tổ chức chính quyền nổ lực để thu hút “khách hàng” phải hướng tới chiến lượt “sản phẩm” và “xúc Luan van 17 tiến”. “Sản phẩm” ở đây được hiểu là những gì chính quyền địa phương có thể cung cấp được cho các nhà đầu tư tài nguyên, nguồn nhân lực, hệ thống các quy định chính sách về đầu tư, cơ sở hạ tầng, các dịch vụ hỗ trợ đầu tư.
“Sản phẩm” hấp dẫn chỉ là một phần trong chiến lượt marketing đầu tư, “xúc tiến” sẽ là chiến lượt cần thiết để đưa thông tin và hình ảnh về “sản phẩm” tới các nhà đầu tư nước ngoài. Thu hút FDI có thể được xem là một chức năng cần thiết của các cấp chính quyền tại các nước đang phát triển, nơi mà FDI có thể là một lời giải cho yêu cầu về vốn và công nghệ cao cho quá trình công nghiệp hóa, hội nhập với các nước trên thế giới.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến thu hút FDI a. Sự ổn định của môi trường vĩ mô Đây là điều kiện tiên quyết của mọi ý định và hành vi đầu tư. Điều này đặc biệt quan trọng đối với việc huy động và sử dụng vốn nớc ngoài, Để thu hút được FDI, nền kinh tế địa phương phải là nơi an toàn cho sự vận động của vốn đầu tư, và là nơi có khả năng sinh lợi cao hơn các nơi khác.
Mức độ ồn định kinh tế vĩ mô được đánh giá thông qua tiêu chí: chống lạm phát và ốn định tiền tệ. Tiêu chí này được thực hiện thông qua các công cụ của chính sách tài chính tiền tệ như lãi suất, tỷ giá hối đoái, tỷ lệ dự trữ bắt buộc, các công cụ thị trường mở đồng thời phải kiểm soái được mửc thâm hụt ngân sách hoặc giữ cho ngân sách cân bằng. Hệ thống Pháp luật và chính sách đầu tư nước ngoài của quốc gia và của các địa phương trong vùng kinh tế tiếp nhận đầu tư Tăng trưởng của doanh nghiệp có vốn ĐTNN thường gặp nhiều khó khăn hơn các doanh nghiệp trong nước về các vấn đề liên quan đến môi trường pháp lý. Bên cạnh đó môi trường pháp lý cũng quyết định đến đặc điểm của thị trường địa phương và trong nước.
Môi trường pháp luật là bộ Luan van 18 phận không thể thiếu đối với hoạt động FDI. Đây chính là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến sự tăng trưởng của doanh nghiệp FDI. Một môi trường pháp lý ổn định và phù hợp là cơ sở rất quan trọng cho một môi trường kinh doanh tốt và điều này đóng vai trò quyết định đến việc tăng trưởng của các doanh nghiệp nhất là các doanh nghiệp ĐTNN. Đây thường là yếu tố được quan tâm đầu tiên của các nhà đầu tư khi lựa chọn địa điểm thực hiện các hoạt động kinh doanh.
Vấn đề mà các nhà ĐTNN quan tâm là: Môi trường cạnh tranh lành mạnh, quyền sờ hữu tài sàn tư nhân được pháp luật bảo đảm. Quy chế pháp lý của việc phân chia lợi nhuận đối với các hình thức vận động cụ thể của vốn nước ngoài. Quy định về thuế, giá, thời hạn thuê đất.Bởi yếu tố này tác động trực tiếp đến giá thành sản phầm và tỷ suất lợi nhuận. Do vậy, hệ thống pháp Luật phái thể hiện được nội dung cơ bản của nguyên tắc: Tôn trọng Độc lập chủ quyền, bình đẳng, cùng có lợi và theo thông lệ Quốc tế.
Đồng thời phải thiết lập và hoàn thiện định chế pháp lý tạo niềm tin cho các nhà ĐTNN. Bên cạnh hệ thống văn bản pháp luật thì nhân tố quyết định pháp luật có hiệu lực là bộ máy quản lý Nhà nước phải gọn nhẹ, cán bộ quản lý theo hướng tạo thuận lợi cho các nhà đầu tư song không ảnh hưởng đến sự phát triển chung của nền kinh tế và xã hội. Sự phát triển của hệ thống cơ sở hạ tầng và các dịch vụ phụ trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh Hệ thống hạ tầng kỹ thuật là cơ sở để thu hút FDI và cũng là nhân tố thúc đầy hoạt động FDI diễn ra nhanh chóng, có ảnh hưởng quyết định đến hiệu quả sản xuất kinh doanh. Cơ sở hạ tầng thường là mối quan tâm hàng đầu được các nhà đầu tư đưa ra xem xét rất kỹ lưỡng khi quyết định đầu tư Luan van 19 hoặc mở rộng hoạt động tại địa phương.
Bên cạnh đó, hệ thống các dịch vụ phụ trợ phục vụ cho hoạt động FDI của doanh nghiệp hiện cũng được coi là yếu tố tác động không nhỏ đến sự tăng trưởng của doanh nghiệp.