Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về kiểm soát nội bộ các khoản thu tại cơ quan bảo hiểm xã hội. Chương 2: Thực trạng kiểm soát nội bộ các khoản thu tại Bảo hiểm xã hội huyện Tuy Phƣớc. 6 Chương 3: Giải pháp hoàn thiện kiểm soát nội bộ các khoản thu tại Bảo hiểm xã hội huyện Tuy Phƣớc. 7 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ CÁC KHOẢN THU TẠI CƠ QUAN BẢO HIỂM XÃ HỘI 1.
Kiểm soát nội bộ 1. Bản chất và vai trò Để thực hiện chức năng kiểm soát, nhà quản lý sử dụng công cụ chủ yếu là kiểm soát nội bộ (KSNB) của đơn vị. Trong hơn một thế kỷ qua, khái niệm KSNB đã phát triển từ chỗ đƣợc xem là một phƣơng pháp giúp cho kiểm toán viên độc lập xác định phƣơng pháp hiệu quả nhất trong việc lập kế hoạch kiểm toán đến chỗ đƣợc coi là một bộ phận chủ yếu của hệ thống quản lý hữu hiệu. Khái niệm KSNB bắt đầu đƣợc sử dụng vào đầu thế kỷ 20 trong các tài liệu về kiểm toán.
Từ thập niên 1940, các tổ chức kế toán công và kiểm toán nội bộ Hoa Kỳ đã xuất bản một loạt các báo cáo, hƣớng dẫn và tiêu chuẩn về tìm hiểu KSNB trong các cuộc kiểm toán. Đến thập niên 1970, kiểm soát nội bộ đƣợc quan tâm đặc biệt trong các lĩnh vực thiết kế hệ thống và kiểm toán, chủ yếu hƣớng vào cách thức cải tiến hệ thống KSNB và vận dụng trong các cuộc kiểm toán. Đạo luật chống hành vi hối lộ ở nƣớc ngoài 1977, các báo cáo của Cohen Commission và FEI (Financial Executive Institute) đều đề cập đến việc hoàn thiện hệ thống kế toán và KSNB. Ủy ban chứng khoán Hoa Kỳ (SEC) cũng đƣa ra các điều luật bắt buộc các nhà quản trị phải báo cáo về hệ thống kiểm soát nội bộ của tổ chức.
Năm 1979, Hiệp hội kế toán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA) đã thành lập một Ủy ban tƣ vấn đặc biệt về kiểm toán nội bộ nhằm dƣa ra các hƣớng dẫn về việc thiết lập và đánh giá hệ thống KSNB. Giai đoạn từ năm 1980 đến 1985, Hiệp hội kế toán viên công chứng 8 Hoa Kỳ đã tiến hành sàng lọc, ban hành và sửa đổi các chuẩn mực về sự đánh giá của kiểm toán viên độc lập về KSNB và báo cáo về KSNB. Hiệp hội kế toán nội bộ (IIA) cũng ban hành chuẩn mực và hƣớng dẫn kiểm toán viên nội bộ về bản chất của kiểm soát và vai trò của các bên liên quan trong việc thiết lập, duy trì và đánh giá hệ thống KSNB. Từ năm 1985 về sau, sự quan tâm tập trung vào KSNB càng mạnh mẽ hơn.
Hội đồng quốc gia chống gian lận về báo cáo tài chính (Treadway Commision) đƣợc thành lập năm 1985. Hoạt động này cũng đã đƣa ra một loạt các vấn đề về KSNB, nhấn mạnh tầm quan trọng của môi trƣờng kiểm soát, các quy tắc về đạo đức, các Ủy ban Kiểm toán và chức năng của kiểm toán nội bộ. Vì thế Ủy ban tổ chức đồng bảo trợ (COSO) của Hôi đồng quốc gia chống gian lận về báo cáo tài chính đã đƣợc thành lập nhằm nghiên cứu KSNB: Thống nhất định nghĩa về KSNB để phục vụ cho nhu cầu của các đối tƣợng khác nhau. Cung cấp đầy đủ một hệ thống tiêu chuẩn để giúp các đơn vị có thể đánh giá hệ thống KSNB để tìm giải pháp hoàn thiện.
Báo cáo COSO năm 1992 đã tạo lập một nền tảng lý luận cơ bản về KSNB. Trên cơ sở đó, hàng loạt các nghiên cứu về KSNB ở nhiều lĩnh vực ra đời nhƣ: Phát triển theo hƣớng quản trị: năm 2001, dựa trên Báo cáo COSO 1992, COSO nghiên cứu hệ thống đánh giá rủi ro doanh nghiệp. Phát triển theo hƣớng chuyên sâu vào những ngành nghề cụ thể: Báo cáo Basle 1998 của Ủy ban Basle các Ngân hàng Trung ƣơng công bố về khuôn khổ KSNB trong ngân hàng, dựa vào lý luận cơ bản của báo cáo COSO 1992. Phát triển theo hƣớng quốc gia: nhiều quốc gia trên thế giới có khuynh hƣớng xây dựng một khuôn khổ lý thuyết riêng về KSNB.
Điển hình là Báo 9 cáo COCO 1995 (Canada), báo cáo Turnbull 1999 (Anh). Các báo cáo này không có sự khác biệt lớn so với Báo cáo COSO 1992. Lịch sử ra đời và phát triển của KSNB trong khu vực công Trong lĩnh vực công, KSNB rất đƣợc xem trọng, nó là một đối tƣợng đƣợc quan tâm đặc biệt của kiểm toán viên Nhà nƣớc. Một số Quốc gia nhƣ Mỹ hoặc Canada đã có những công bố chính thức về KSNB áp dụng cho các cơ quan hành chính sự nghiệp.
Chuẩn mực về kiểm toán của Tổng Kế toán Nhà nƣớc Hoa Kỳ (GAO) (1999) có đề cập đến vấn đề KSNB đặc thù trong tổ chức hành chính sự nghiệp. GAO đƣa ra năm yếu tố về KSNB bao gồm các quy định về môi trƣờng kiểm soát, đánh giá rủi ro, các hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông, giám sát. Về kiểm toán Nhà nƣớc, hệ thống chuẩn mực kiểm toán Nhà nƣớc do Tổ chức Quốc tế các cơ quan kiểm toán tối cao (INTOSAI) ban hành. Tổ chức này bao gồm 178 thành viên.
Hệ thống chuẩn mực kiểm toán do INTOSAI ban hành bao gồm quy tắc đạo đức nghề nghiệp và chuẩn mực kiểm toán. Năm 1992, bản Hƣớng dẫn về chuẩn mực KSNB của INTOSAI đã hình thành một tài liệu đề cập đến việc nâng cấp các chuẩn mực KSNB, hỗ trợ cho việc thực hiện và đánh giá KSNB. Năm 2001, bản Hƣớng dẫn của INTOSAI 1992 đã cập nhật thêm về các chuẩn mực KSNB để phù hợp với tất cả các đối tƣợng và phù hợp với sự phát triển gần đây trong KSNB. Điều cần lƣu ý là tài liệu này đã tích hợp các lý luận chung về KSNB của Báo cáo COSO.
Bên cạnh việc cải thiện định nghĩa KSNB và xây dựng một sự hiểu biết thông thƣờng về KSNB, tài liệu của INTOSAI trình bày những vấn đề đặc thù về khu vực công. Định nghĩa về kiểm soát nội bộ của INTOSAI 10 Hƣớng dẫn chuẩn mực của KSNB của (INTOSAI,1992) đƣa ra định nghĩa về KSNB nhƣ sau: KSNB là cơ cấu của một tổ chức, bao gồm nhận thức, phƣơng pháp, quy trình và các biện pháp của ngƣời lãnh đạo nhằm bảo đảm sự hợp lý để đạt đƣợc các mục tiêu của tổ chức. Thúc đẩy các hoạt động hữu hiệu, hiệu quả và có kỷ cƣơng cũng nhƣ chất lƣợng của sản phẩm, dịch vụ phù hợp với nhiệm vụ của tổ chức. Bảo vệ các nguồn lực không bị thất thoát, lạm dụng, lãng phí, tham ô và vi phạm pháp luật.
Khuyến khích tuân thủ pháp luật, quy định của Nhà nƣớc và nội bộ. Xây dựng và duy trì các dữ liệu tài chính và hoạt động và lập báo cáo đúng đắn và kịp thời. Tài liệu hƣớng dẫn của INTOSAI đƣợc cập nhật lại vào năm 2001, trình bày về định nghĩa về KSNB nhƣ sau: KSNB là một quá trình xử lý toàn bộ đƣợc thực hiện bởi nhà quản lý và các cá nhân trong tổ chức, quá trình này đƣợc thiết kế để phát hiện các rủi ro và cung cấp một sự đảm bảo hợp lý để đạt đƣợc nhiệm vụ của tổ chức. Sau đây là những mục tiêu cần đạt đƣợc: Thực hiện các hoạt động một cách có kỷ cƣơng, có đạo đức, có tính kinh tế, hiệu quả và thích hợp.
Thực hiện đúng trách nhiệm. Tuân thủ theo luật pháp hiện hành và các nguyên tắc, quy định. Bảo vệ các nguồn lực chống thất thoát, sử dụng sai mục đích và tổn thất. So với định nghĩa của báo cáo COSO và Hƣớng dẫn năm 1992, khía 11 cạnh giá trị đạo đức trong hoạt động đƣợc thêm vào.
Mục tiêu của KSNB đƣợc nhấn mạnh thêm, đó chính là tầm quan trọng của hành vi đạo đức cũng nhƣ sự ngăn chặn và phát hiện sự gian trá và tham nhũng trong khu vực công. Ngân sách của Nhà nƣớc đƣợc phân bố rộng rãi, chính vì vậy cần có các kiểm soát nhằm đảm bảo ngân sách đƣợc sử dụng đúng mục đích, các tài sản không bị thất thoát hay lãng phí. Vì vậy, việc bảo vệ nguồn lực cần đƣợc nhấn mạnh thêm tầm quan trọng trong KSNB đối với khu vực công. - Về bản chất: Hệ thống kiểm soát nội bộ nhằm vào 3 vấn đề lớn, đó là: Tuân thủ luật pháp và quy định; Đảm bảo mục tiêu của hoạt động (hiệu quả hoạt động và hiệu năng quản lý); Đảm bảo độ tin cậy của báo cáo tài chính.
- Về vai trò: + Vai trò của kiểm soát trong quản lý: Đảm bảo hiệu quả hoạt động và hiệu năng quản lý của đơn vị ở tất cả giai đoạn, các khâu trong toàn bộ quá trình quản lý. Nhờ có chức năng này mà các kế hoạch, mục tiêu đề ra, và việc sử dụng các yếu tố nguồn lực luôn đƣợc giám sát một cách chặt chẽ từ khâu xây dựng đến việc thực hiện. Việc thƣờng xuyên kiểm tra, kiểm soát tiến độ thực hiện sẽ giúp điều hòa mối quan hệ, kịp thời điều chỉnh các định mức và mục tiêu từ đó tiết kiệm tối đa chi phí nguồn lực mà vẫn đạt đƣợc kết quả cao. Đồng thời kiểm tra, kiểm soát giúp cho việc thực hiện tốt các mục tiêu đề ra từ đó nâng cao hiệu năng quản lý của đơn vị.
+ Vai trò của kiểm soát nội bộ đối với nhà quản lý doanh nghiệp: Kiểm soát nội bộ luôn là khâu quan trọng trong mọi quy trình quản trị, do đó các nhà quan lý doanh nghiệp thƣờng chú tâm đến việc hình thành và duy trì các hoạt động kiểm soát nội bộ trong doanh nghiệp để đạt đƣợc các mục tiêu của doanh nghiệp. Hệ thống kiểm soát nội bộ là phƣơng tiện để bộ phận quản lý thực hiện nhiệm vụ cung cấp cho các cổ đông, ngân hàng, các nhà đầu tƣ một sự đảm 12 bảo thích hợp rằng công việc kinh doanh đƣợc kiểm soát thích đáng. Điều này có ý nghĩa rất quan trọng, nó là một trong các yếu tố giúp cho nhà đầu tƣ đƣa ra quyết định có nên đầu tƣ vào doanh nghiệp hay không. Đồng thời bộ phận quản lý còn có trách nhiệm cung cấp cho các cổ đông, chính phủ và những nhà đầu tƣ tiềm tàng những thông tin chi tiết về tình hình tài chính của đơn vị mà hệ thống kiểm soát nội bộ là một công cụ cho nhà quản lý doanh nghiệp lựa chọn.
Những thông tin chi tiết về tình hình tài chính cũng nhƣ phƣơng thức hoạt động của đơn vị sữ đáp ứng đƣợc nhu cầu thông tin cụ thể về doanh nghiệp của các nhà đầu tƣ.