phần mở đầu và kết luận, em xin đƣợc trình bày kết cấu khóa luận thành 3 chƣơng nhƣ sau: CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA DOANH NGHIỆP CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA CÔNG TY TNHH THƢƠNG MẠI VÀ DU LỊCH LINH VIỆT CHƢƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA CÔNG TY TNHH THƢƠNG MẠI VÀ DU LỊCH LINH VIỆT Do thời gian thực hiện khóa luận cũng nhƣ sự hạn chế về kiến thức và kinh nghiệm thực tế, bản khóa luận chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót. Chính vì vậy, em rất mong sẽ nhận đƣợc những đánh giá và góp ý của quý thầy cô cũng nhƣ bạn bè quan tâm để đề tài đƣợc hoàn thiện hơn nữa. Em xin chân thành cảm ơn! 3 CHƢƠNG 1:NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA DOANH NGHIỆP 1. Những vấn đề lý luận cơ bản về lợi nhuận của doanh nghiệp 1.
Khái niệm về lợi nhuận doanh nghiệp Mục tiêu truyền thống và quan trọng của một chủ công ty theo lý thuyết là đạt tối đa lợi nhuận, đây là cơ sở của rất nhiều lý thuyết của kinh tế vi mô. Lợi nhuận có thể hiểu là kết quả tài chính cuối cùng của các hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoạt động tài chính, hoạt động khác đƣa lại, là chỉ tiêu chất lƣợng để đánh giá hiệu quả kinh tế các hoạt động của doanh nghiệp. Hay từ góc độ của nhà quản trị tài chính doanh nghiệp có thể thấy: Lợi nhuận của doanh nghiệp là khoản chênh lệch giữa doanh thu và chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra để đạt được doanh thu đó từ các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đưa lại. Nội dung của lợi nhuận doanh nghiệp 1.
Công thức xác định lợi nhuận Trong công thức trên: - Tổng doanh thu: Là tổng các giá trị lợi ích kinh tế mà doanh nghiệp đạt đƣợc từ các hoạt động kinh doanh của mình. - Tổng chi phí: Là tổng các chi phí trong quá trình sản xuất kinh doanh nhƣ chi phí nguyên vật liệu, chi phí sản xuất, chi phí bán hàng, chi phí quản lý. Cơ cấu lợi nhuận Hoạt động kinh doanh trong cơ chế thị trƣờng, để tồn tại và phát triển, sản xuất và kinh doanh của doanh nghiệp phải có hiệu quả. Tuy nhiên, do hoạt động sản xuất và kinh doanh của doanh nghiệp rất đa dạng và phong phú, hiệu quả kinh doanh có thể đạt đƣợc từ nhiều hoạt động khác nhau.
Bởi vậy, lợi nhuận của doanh nghiệp cũng bao gồm nhiều loại, trong đó chủ yếu là: 4 Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh Đây là khoản đóng góp chủ yếu vào lợi nhuận của doanh nghiệp. Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh là khoản chênh lệch giữa doanh thu thuần bán hàng và cung cấp dịch vụ trừ các chi phí nhƣ: giá vốn hàng hóa, chi phí bán hàng, bao gồm hai phần: - Lợi nhuận bán hàng và cung cấp dịch vụ: là khoảng chênh lệch giữa doanh thu thuần bán hàng và dịch vụ cung cấp trừ đi toàn bộ chi phí (giá vốn hàng hóa, chi phí vận chuyển, chi phí quản lý). - Lợi nhuận từ hoạt động tài chính: là khoản chênh lệch giữa các khoản phải thu và chi có tính chất nghiệp vụ tài chính trong quá trình doanh nghiệp thực hiện việc kinh doanh. Các hoạt động nghiệp vụ tài chính bao gồm: hoạt động cho thuê tài chính, hoạt động mua bán chứng khoán, mua bán ngoại tệ, lãi tiền gửi ngân hàng thuộc vốn kinh doanh của doanh nghiệp, lãi cho vay vốn, lợi tức cổ phần và hoàn nhập số dƣ dự phòng, giảm giá đầu tƣ chứng khoán và lợi nhuận thu đƣợc từ việc phân chia kết quả hoạt động liên doanh, liên kết của doanh nghiệp với đơn vị khác.
Lợi nhuận từ các hoạt động khác Lợi nhuận thu đƣợc từ các hoạt động khác (hoạt động bất thƣờng) là khoản chênh lệch giữa thu nhập và chi phí của các hoạt động khác ngoài các hoạt động nêu trên. Khoản lợi nhuận này không chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu lợi nhuận chung, nằm ngoài các hoạt động của công ty và không mang tính thƣờng xuyên. Tuy nhiên, doanh nghiệp vẫn cần phải quan tâm đến nó vì nó là một phần lợi nhuận doanh nghiệp nên vẫn có phần nào ảnh hƣởng tới kết quả kinh doanh và tình hình tài chính của doanh nghiệp. Lợi nhuận thu đƣợc từ hoạt động khác bao gồm: Khoản phải trả nhƣng không trả đƣợc do phía chủ nợ, khoản nợ khó đòi đã duyệt, bỏ nay thu hồi đƣợc, lợi nhuận từ quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản.
Khoản thu vật tƣ, tài sản thừa sau khi đã bù trừ hao hụt, mất mát, khoản chênh lệch giữa thu nhập và chi phí của hoạt động thanh lý, nhƣợng bán tài sản cố định. Lợi nhuận các năm trƣớc phát hiện năm nay, hoàn nhập số dƣ các tài khoản dự phòng, giảm giá hàng tồn kho, dự phòng nợ phải thu khó đòi, tiền trích bảo hành sản phẩm còn thừa sau khi hết hạn bảo hành. 5 Có thể nói rằng, việc xác định cơ cấu, nội dung lợi nhuận có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nó cho ta thấy đƣợc các hoạt động tạo lợi nhuận và phần lợi nhuận nào chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu lợi nhuận, từ đó tìm ra các phƣơng hƣớng nhằm làm tăng lợi nhuận trong doanh nghiệp một cách hiệu quả hơn.
Ý nghĩa của lợi nhuận doanh nghiệp Trong nền kinh tế thị trƣờng, doanh nghiệp có tồn tại và phát triển đƣợc hay không phụ thuộc rất lớn vào việc doanh nghiệp có tạo ra lợi nhuận đƣợc hay không. Vì vậy, lợi nhuận giữ vị trí quan trọng trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Lợi nhuận là nguồn tài chính quan trọng đảm bảo cho doanh nghiệp tăng trƣởng một cách ổn định, vững chắc, là nguồn quan trọng để doanh nghiệp tái đầu tƣ, mở rộng sản xuất kinh doanh. Trên phạm vi xã hội, lợi nhuận là nguồn thu quan trọng của ngân sách Nhà nƣớc, là nguồn để tái sản xuất xã hội.
Lợi nhuận là nguồn tài chính chủ yếu để cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của ngƣời lao động trong doanh nghiệp. Lợi nhuận còn phản ánh hiệu quả, chất lƣợng của toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh. Những vấn đề lý luận cơ bản về khả năng sinh lời của doanh nghiệp 1. Khái niệm khả năng sinh lời của doanh nghiệp Khả năng sinh lời là thước đo hiệu quả bằng tiền, là điều kiện cần nhưng chưa đủ để duy trì cân bằng tài chính trong doanh nghiệp.
Khái niệm khả năng sinh lời đƣợc áp dụng trong mọi hoạt động kinh tế sử dụng các phƣơng tiện vật chất, con ngƣời về tài chính, thể hiện bằng kết quả trên phƣơng tiện. Khả năng sinh lời có thể áp dụng cho một hoặc một tập hợp tài sản. Việc đánh giá khả năng sinh lời phải dựa trên một khoảng thời gian tham chiếu. Ở cấp độ doanh nghiệp, khả năng sinh lời là kết quả của việc sử dụng tập hợp các tài sản vật chất và tài sản tài chính, tức là vốn kinh tế mà doanh nghiệp nắm giữ.
Nhìn chung, khả năng sinh lời cần ít nhất đủ để đáp ứng đƣợc hai đòi hỏi cấp bách: Đảm bảo duy trì vốn cho doanh nghiệp, trả đƣợc các khoản lãi vay và đảm bảo hoàn trả khoản vay. Vai trò khả năng sinh lời của doanh nghiệp 1. Đối với doanh nghiệp Khả năng sinh lợi là kết quả cuối cùng của mọi hoạt động trong doanh nghiệp, là mục tiêu phấn đấu của các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh và đóng góp tích cực vào sự tăng trƣởng của nền kinh tế quốc dân. Các doanh nghiệp tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh với động cơ kinh tế là sinh lợi.
Trong nền kinh tế thị trƣờng, khả năng sinh lợi là mục tiêu của kinh doanh, là thƣớc đo phản ánh kết quả hoat động sản xuất kinh doanh về mặt quy mô, là động lực thúc đẩy các doanh nghiệp cũng nhƣ mỗi lao động không ngừng sử dụng hợp lý tiết kiệm các nguồn lực, nâng cao năng suất, chất lƣợng và hiệu quả của quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh. Ngoài ra động cơ sinh lợi giúp cho doanh nghiệp luôn cải tiến kỹ thuật đƣa ra thị trƣờng những sản phẩm mới, dịch vụ hoàn hảo nhằm thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng của con ngƣời dẫn đến làm cho xã hội loài ngƣời ngày càng phát triển. Khả năng sinh lợi là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp mà thông qua việc phân tích chỉ tiêu này sẽ giúp nhà quản lý xác định các nguyên nhân ảnh hƣởng đến tình hình lợi nhuận để đƣa ra các quyết định phù hợp nhằm nâng cao kết quả kinh doanh của mội hoat động. Khả năng sinh lợi là nguồn tài chính quan trọng để tái sản xuất mở rộng, tiếp tục phát triển quá trình sản xuất kinh doanh để có hiệu quả cao hơn, bù đắp rủi ro trong kinh doanh, tăng vốn chủ sở hữu, thực hiện khuyến khích vật chất, cải tiến đời sống cho ngời lao động,.
Đối với xã hội Doanh nghiệp là tế bào của nền kinh tế quốc dân, khả năng sinh lợi của doanh nghiệp là động lực, là đòn bẩy kinh tế của xã hội. Nếu doanh nghiệp hoạt động kinh doanh đảm bảo tài chính ổn định và luôn tăng trƣởng, có lợi nhuận cao thì tiềm lực tài chính quốc gia sẽ ổn định và phát triển. Khả năng sinh lợi là cơ sở để tăng thu nhập quốc dân ở mỗi nƣớc. Các doanh nghiệp thức hiện nghĩa vụ tài chính với Nhà nƣớc thông qua việc nộp thuế tạo nên nguồn thu cho ngân sách Nhà nƣớc.
Nhà nƣớc sử dụng nguồn vốn này để trang trải các chi tiêu cho sự hoạt động của bộ máy nhà nƣớc, thực hiện các chƣơng trình phát 7 triển an ninh – kinh tế - xã hội, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Điều này lại có tác động tích cực ngƣợc trở lại với sự phát triển của các doanh nghiệp. Đây là mối quan hệ rất khăng khít, tạo nên sự phát triển bền vứng của toàn bộ nền kinh tế. Nhƣ vậy, nếu doanh nghiệp không có khả năng sinh lợi thì không thẻ nộp thuế cho Nhà nƣớc, dẫn đến Nhà nƣớc bị hạn chế nguồn thu.