phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc chia thành 4 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận chung về công tác quản lý lao động Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Thực trạng công tác quản lý lao động tại Công ty Cổ phần đầu tƣ và thƣơng mại TNG Chƣơng 4: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý lao động tại Công ty Cổ phần đầu tƣ và thƣơng mại TNG Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 4 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ LAO ĐỘNG 1. Những vấn đề cơ bản về quản lý lao động 1. Một số khái niệm - Tổ chức lao động Lao động, trong kinh tế học, đƣợc hiểu là một yếu tố sản xuất do con ngƣời tạo ra và là một dịch vụ hay hàng hóa. Ngƣời có nhu cầu về hàng hóa này là ngƣời sản xuất hay ngƣời chủ, ngƣời thuê mƣớn lao động.
Còn ngƣời cung cấp hàng hóa này là ngƣời lao động. Cũng nhƣ mọi hàng hóa và dịch vụ khác, lao động đƣợc trao đổi trên thị trƣờng, gọi là thị trƣờng lao động. Giá cả của lao động là tiền công thực tế mà ngƣời sản xuất trả cho ngƣời lao động. Mức tiền công chính là mức giá của lao động.
Quá trình lao động là một hiện tƣợng kinh tế xã hội và vì thế, nó luôn luôn đƣợc xem xét trên hai mặt: mặt vật chất và mặt xã hội. Về mặt vật chất, quá trình lao động dƣới bất kỳ hình thái kinh tế -xã hội nào muốn tiến hành đƣợc đều phải bao gồm ba yếu tố: bản thân lao động, đối tƣợng lao động và công cụ lao động. Quá trình lao động chính là sự kết hợp qua lại lẫn nhau giữa ba yếu tố đó, trong đó con ngƣời sử dụng công cụ lao động để tác động lên đối tƣợng lao động nhằm mục đích làm cho chúng thích ứng với những nhu cầu của mình. Còn mặt xã hội của quá trình lao động đƣợc thể hiện ở sự phát sinh các mối quan hệ qua lại giữa những ngƣời lao động với nhau trong quá trình lao động.
Các mối quan hệ đó hình thành tính chất tập thể, tính chất xã hội của lao động.1 Dù quá trình lao động đƣợc diễn ra dƣới những điều kiện kinh tế xã hội nhƣ thế nào thì cũng phải tổ chức sự kết hợp tác động giữa các yếu tố cơ bản của 1 Giáo trình quản lý nhân lực trong Doanh nghiệp, Nhà xuất bản Khoa học và kỹ thuật Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 5 quá trình lao động và các mối quan hệ qua lại giữa những ngƣời lao động với nhau vào việc thực hiện mục đích của quá trình đó, tức là phải tổ chức lao động. Nhƣ vậy: Tổ chức lao động là một phạm trù gắn liền với lao động sống, với việc đảm bảo sự hoạt động của sức lao động. Thực chất, tổ chức lao động trong phạm vi một tập thể lao động nhất định là một hệ thống các biện pháp đảm bảo sự hoạt động lao động của con ngƣời nhằm mục đích nâng cao năng suất lao động và sử dụng hợp lý và có hiệu quả nhất các tƣ liệu sản xuất. Nghiên cứu tổ chức lao động cần phải tránh đồng nhất nó với tổ chức sản xuất.
Xét về mặt bản chất, khi phân biệt giữa tổ chức lao động và tổ chức sản xuất chúng khác nhau ở chỗ: tổ chức lao động là một hệ thống các biện pháp để đảm bảo sự hoạt động có hiệu quả của lao động sống. Còn tổ chức sản xuất là tổng thể các biện pháp nhằm sử dụng đầy đủ nhất toàn bộ nguồn lao động và các điều kiện vật chất kỹ thuật của doanh nghiệp, đảm bảo cho quá trình sản xuất đƣợc liên tục ổn định, nhịp nhàng và kinh tế. Đối tƣợng của tổ chức sản xuất là cả ba yếu tố của quá trình sản xuất, còn đối tƣợng của tổ chức lao động chỉ bao gồm lao động sống - yếu tố cơ bản nhất của quá trình sản xuất mà thôi.2 Trong doanh nghiệp, tổ chức lao động là một bộ phận cấu thành không thể tách rời của tổ chức sản xuất. Tổ chức lao động giữ vị trí quan trọng trong tổ chức sản xuất là do vai trò quan trọng của con ngƣời trong quá trình sản xuất quyết định.
Cơ sở kỹ thuật của sản xuất dù hoàn thiện nhƣ thế nào thì quá trình sản xuất cũng không thể tiến hành đƣợc nếu không sử dụng sức lao động, không có sự hoạt động có mục đích của con ngƣời đƣa cơ sở kỹ thuật đó vào hoạt động. 2 Giáo trình quản lý nhân lực trong Doanh nghiệp, Nhà xuất bản Khoa học và kỹ thuật Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 6 Do đó, lao động có tổ chức của con ngƣời trong bất kỳ doanh nghiệp nào cũng là điều kiện tất yếu của hoạt động sản xuất, còn tổ chức lao động là một bộ phận cấu thành của tổ chức quá trình sản xuất. Tổ chức lao động không chỉ cần thiết trong lĩnh vực sản xuất vật chất mà nó cũng cần thiết trong các doanh nghiệp dịch vụ. Do vậy, tổ chức lao động đƣợc hiểu là tổ chức quá trình hoạt động của con ngƣời trong sự kết hợp giữa ba yếu tố cơ bản của quá trình lao động và các mối quan hệ qua lại giữa những ngƣời lao động với nhau nhằm đạt đƣợc mục đích của quá trình đó.
- Quản lý lao động Các doanh nghiệp đều có các nguồn lực bao gồm tiền bạc, vật chất, thiết bị và con ngƣời cần thiết để tạo ra hàng hóa và dịch vụ mà doanh nghiệp đƣa ra thị trƣờng. Hầu hết các doanh nghiệp đều xây dựng các thủ tục và quy trình về cung cấp nguyên vật liệu và thiết bị nhằm đảm bảo việc cung cấp đầy đủ chúng khi cần thiết. Tƣơng tự nhƣ vậy, các doanh nghiệp cần phải quan tâm đến qui trình quản lý con ngƣời - một nguồn lực quan trọng nhất trong doanh nghiệp. Quản lý lao động hay ở cấp độ cao hơn là quản lý lao động bao gồm tất cả những quyết định và hoạt động quản lý có ảnh hƣởng đến mối quan hệ giữa doanh nghiệp và đội ngũ nhân viên của doanh nghiệp.
Mục tiêu chủ yếu của quản lý lao động là nhằm đảm bảo đủ về số lƣợng và cơ cấu đội ngũ lao động với mức trình độ và kỹ năng phù hợp, bố trí họ vào đúng công việc, và vào đúng thời điểm để đạt đƣợc các mục tiêu của doanh nghiệp. Nhƣ vậy, một câu hỏi đặt ra: ai phụ trách quản lý lao động trong quản lý doanh nghiệp? rõ ràng câu trả lời sẽ là: mọi nhà quản lý trong doanh nghiệp. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 7 Quản lý lao động là đảm bảo có đúng ngƣời với kỹ năng và trình độ phù hợp, vào đúng công việc và vào đúng thời điểm thích hợp để thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp. Nhƣng dù ở bất cứ xã hội nào vấn đề mấu chốt của quản trị vẫn là quản lý lao động.
Một doanh nghiệp dù có nguồn tài chính dồi dào, nguồn tài nguyên vật tƣ phong phú, hệ thống máy móc thiết bị hiện đại đi chăng nữa cũng sẽ trở nên vô ích, nếu không biết hoặc quản trị kém nguồn tài nguyên nhân sự.3 Chính cung cách quản trị tài nguyên nhân sự này tạo ra bộ mặt văn hóa của tổ chức, tạo ra bầu không khí có sự đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau hay lúc nào cũng căng thẳng bất ổn định. Phân loại lao động Việc phân loại lao động có ý nghĩa quan trọng trong việc qui hoạch lao động, phục vụ trực tiếp cho việc tính toán, lập dự toán cho việc tính toán chi phí lao động trực tiếp, gián tiếp. Có nhiều tiêu chuẩn phân loại có mục đích, ý nghĩa và yêu cầu quản lý khác nhau. Căn cứ vào tính chất công việc mà ngƣời lao động đảm nhận, lao động của doanh nghiệp cũng nhƣ của từng bộ phận trong doanh nghiệp đƣợc chia thành 2 loại: Lao động trực tiếp và lao động gián tiếp.
- Lao động trực tiếp gồm những ngƣời trực tiếp tiến hành hoạt động SXKD tạo ra sản phẩm hay trực tiếp thực hiện các công việc dịch vụ nhất định. Theo nội dung công việc mà ngƣời lao động thực hiện, loại lao động trực tiếp đƣợc chia thành: Lao động SXKD chính, lao động SXKD phụ trợ, lao động của các hoạt động khác. Theo năng lực và trình độ chuyên môn, lao động trực tiếp đƣợc phân thành các loại: 3 Giáo trình quản lý nhân lực trong Doanh nghiệp, Nhà xuất bản Khoa học và kỹ thuật Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 8 + Lao động tay nghề cao: Gồm những ngƣời đã qua đào tạo chuyên môn và có nhiều kinh nghiệm trong công việc thực tế, có khả năng đảm nhận các công việc phức tạp đòi hỏi trình độ cao. + Lao động có tay nghề trung bình: Gồm những ngƣời đã qua đào tạo chuyên môn, nhƣng thời gian công tác thực tế chƣa nhiều hoặc những ngƣời chƣa đƣợc đào tạo qua trƣờng lớp chuyên môn nhƣng có thời gian làm việc thực tế tƣơng đối lâu đƣợc trƣởng thành do học hỏi từ thực tế.
- Lao động gián tiếp: Gồm những ngƣời chỉ đạo, phục vụ và quản lý kinh doanh trong doanh nghiệp. Theo nội dung công việc và nghề nghiệp chuyên môn, loại lao động này đƣợc chia thành: Nhân viên kỹ thuật, nhân viên quản lý kinh tế, nhân viên quản lý hành chính. Theo năng lực và trình độ chuyên môn, lao động gián tiếp đƣợc phân thành các loại: + Chuyên viên chính: Là những ngƣời có trình độ từ đại học trở lên có trình độ chuyên môn cao, có khả năng giải quyết các công việc mang tính tổng hợp, phức tạp. + Chuyên viên: Cũng là những ngƣời lao động đã tốt nghiệp đại học, trên đại học, có thời gian công tác tƣơng đối lâu, trình độ chuyên môn tƣơng đối cao.
+ Cán sự: Gồm những ngƣời mới tốt nghiệp đại học, có thời gian công tác thực tế chƣa nhiều. + Nhân viên: Là những ngƣời lao động gián tiếp với trình độ chuyên môn thấp, có thể đã qua đào tạo các trƣờng lớp chuyên môn, nghiệp vụ, hoặc chƣa qua đào tạo. Phân loại lao động có ý nghĩa lớn trong việc nắm bắt thông tin về số lƣợng và thành phần lao động, về trình độ nghề nghiệp của ngƣời lao động trong doanh nghiệp, về sự bố trí lao động trong doanh nghiệp từ đó thực hiện Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 9 quy hoạch lao động, lập kế hoạch lao động.