Thực trạng và giải pháp tăng cường công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ công đoàn của các doanh nghiệp tại thị xã đông triều tỉnh quảng ninh trong bối cảnh mới

Bài viết phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao đào tạo cán bộ công đoàn tại doanh nghiệp thị xã Đông Triều, Quảng Ninh.

Chuyên ngành

Quản lý kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2021

96
4
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về giải pháp đào tạo cán bộ công đoàn tại Đông Triều

Đào tạo cán bộ công đoàn là một trong những yếu tố quan trọng giúp nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động của tổ chức công đoàn tại các doanh nghiệp. Tại thị xã Đông Triều, Quảng Ninh, việc tăng cường công tác đào tạo cán bộ công đoàn không chỉ đáp ứng nhu cầu phát triển của doanh nghiệp mà còn góp phần bảo vệ quyền lợi của người lao động. Các chương trình đào tạo cần được thiết kế phù hợp với đặc thù của từng doanh nghiệp và nhu cầu thực tế của cán bộ công đoàn.

1.1. Đặc điểm của công tác đào tạo cán bộ công đoàn tại Đông Triều

Công tác đào tạo cán bộ công đoàn tại Đông Triều hiện nay đang gặp nhiều thách thức. Đặc điểm của thị xã với sự phát triển nhanh chóng của các doanh nghiệp đòi hỏi cán bộ công đoàn phải có kiến thức và kỹ năng phù hợp. Việc xác định nhu cầu đào tạo là rất cần thiết để đảm bảo hiệu quả.

1.2. Vai trò của cán bộ công đoàn trong doanh nghiệp

Cán bộ công đoàn đóng vai trò quan trọng trong việc kết nối giữa người lao động và ban lãnh đạo doanh nghiệp. Họ không chỉ là người đại diện cho quyền lợi của công nhân mà còn là cầu nối trong việc thực hiện các chính sách lao động. Đào tạo giúp họ nâng cao khả năng thương thuyết và giải quyết vấn đề.

II. Thách thức trong công tác đào tạo cán bộ công đoàn tại Đông Triều

Mặc dù công tác đào tạo cán bộ công đoàn đã được chú trọng, nhưng vẫn còn nhiều thách thức cần khắc phục. Việc xác định nhu cầu đào tạo chưa được thực hiện đồng bộ, dẫn đến tình trạng một số chương trình không phù hợp với thực tế. Ngoài ra, nguồn kinh phí cho đào tạo còn hạn chế, ảnh hưởng đến chất lượng chương trình.

2.1. Thiếu hụt nguồn lực tài chính cho đào tạo

Nhiều doanh nghiệp tại Đông Triều gặp khó khăn trong việc bố trí ngân sách cho công tác đào tạo cán bộ công đoàn. Điều này dẫn đến việc tổ chức các khóa học không đạt yêu cầu về chất lượng và nội dung.

2.2. Khó khăn trong việc xác định nhu cầu đào tạo

Việc xác định nhu cầu đào tạo cho cán bộ công đoàn chưa được thực hiện một cách khoa học. Nhiều doanh nghiệp chưa có hệ thống đánh giá rõ ràng về năng lực của cán bộ, dẫn đến việc thiết kế chương trình đào tạo không phù hợp.

III. Giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo cán bộ công đoàn tại Đông Triều

Để nâng cao chất lượng công tác đào tạo cán bộ công đoàn, cần thực hiện một số giải pháp cụ thể. Đầu tiên, cần hoàn thiện phương pháp xác định nhu cầu đào tạo, từ đó xây dựng chương trình đào tạo phù hợp. Thứ hai, cần đa dạng hóa các hình thức đào tạo để đáp ứng nhu cầu của từng đối tượng.

3.1. Hoàn thiện phương pháp xác định nhu cầu đào tạo

Cần xây dựng một hệ thống đánh giá nhu cầu đào tạo rõ ràng, dựa trên khảo sát thực tế từ cán bộ công đoàn và người lao động. Điều này giúp đảm bảo chương trình đào tạo đáp ứng đúng nhu cầu thực tế.

3.2. Đa dạng hóa hình thức đào tạo

Các hình thức đào tạo cần được đa dạng hóa, bao gồm đào tạo trực tuyến, hội thảo, và các khóa học ngắn hạn. Điều này giúp cán bộ công đoàn có nhiều cơ hội học hỏi và nâng cao kỹ năng.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về đào tạo cán bộ công đoàn

Việc áp dụng các giải pháp đào tạo cán bộ công đoàn tại Đông Triều đã mang lại nhiều kết quả tích cực. Nhiều cán bộ công đoàn đã được trang bị kiến thức và kỹ năng cần thiết, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức. Các doanh nghiệp cũng nhận thấy sự cải thiện trong mối quan hệ lao động.

4.1. Kết quả đạt được từ các chương trình đào tạo

Nhiều cán bộ công đoàn sau khi tham gia các khóa đào tạo đã có khả năng giải quyết vấn đề tốt hơn, từ đó cải thiện mối quan hệ giữa người lao động và ban lãnh đạo doanh nghiệp.

4.2. Những bài học kinh nghiệm từ thực tiễn

Các doanh nghiệp cần rút ra bài học từ những chương trình đào tạo đã thực hiện, từ đó điều chỉnh và cải tiến để nâng cao chất lượng đào tạo trong tương lai.

V. Kết luận và hướng đi tương lai cho công tác đào tạo cán bộ công đoàn

Công tác đào tạo cán bộ công đoàn tại Đông Triều cần được tiếp tục chú trọng và cải tiến. Việc xây dựng một hệ thống đào tạo bài bản sẽ giúp nâng cao năng lực cho cán bộ công đoàn, từ đó góp phần vào sự phát triển bền vững của doanh nghiệp và bảo vệ quyền lợi của người lao động.

5.1. Tầm quan trọng của đào tạo cán bộ công đoàn

Đào tạo cán bộ công đoàn không chỉ giúp nâng cao năng lực cá nhân mà còn góp phần vào sự phát triển chung của doanh nghiệp. Cán bộ công đoàn có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi của người lao động.

5.2. Định hướng phát triển công tác đào tạo trong tương lai

Cần xây dựng các chương trình đào tạo phù hợp với xu hướng phát triển của thị trường lao động và nhu cầu thực tế của doanh nghiệp. Đầu tư vào đào tạo sẽ mang lại lợi ích lâu dài cho cả doanh nghiệp và người lao động.

25/06/2025
Thực trạng và giải pháp tăng cường công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ công đoàn của các doanh nghiệp tại thị xã đông triều tỉnh quảng ninh trong bối cảnh mới

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ CÔNG ĐOÀN TRONG DOANH NGHIỆP 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Cán bộ Thuật ngữ cán bộ thường được dùng khá phổ biến trong xã hội. Trên thế giới, thuật ngữ “cán bộ” được sử dụng khá lâu tại các nước XHCN, bao hàm một phạm vi rộng, gồm những người làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc khu vực nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội.

Tuy nhiên, xác định cụ thể những tiêu chí nào là cán bộ thì đến nay chưa có văn bản nào quy định chính thức. Ở Việt Nam, theo cách hiểu thông thường trước đây, cán bộ là những người tham gia cách mạng, làm việc trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, đoàn thể, quân đội, công an và được hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Theo Từ điển Tiếng Việt, cán bộ có hai nghĩa: Thứ nhất, cán bộ là người làm công tác có nghiệp vụ chuyên môn trong các cơ quan nhà nước; Thứ hai, là người làm công tác có chức vụ trong một cơ quan, một tổ chức, phân biệt với người thường, không có chức vụ (Từ điển Tiếng việt, 2000). Điều 4 Luật Cán bộ, Công chức quy định: “Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước” (Quốc Hội nước CHXHCNVN, khóa XIII, 2014).

Từ những quan niệm trên, theo tác giả khái niệm cán bộ theo nghĩa chung nhất là: cán bộ là người được tuyển dụng, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, các nhà khoa học làm việc, hưởng lương từ ngân sách Nhà nước hoặc từ các nguồn khác. Cán bộ công đoàn Theo quy định tại Điều 4 - Điều lệ Công đoàn Việt Nam (Khóa XII), thì Cán bộ công đoàn là người đảm nhiệm các chức danh từ tổ phó công đoàn trở lên thông qua bầu cử tại đại hội hoặc hội nghị công đoàn; được cấp có thẩm quyền 7 chỉ định, công nhận, tuyển dụng, bổ nhiệm vào các chức danh cán bộ công đoàn hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của tổ chức công đoàn. Cán bộ công đoàn gồm có cán bộ công đoàn chuyên trách và cán bộ công đoàn không chuyên trách. - Cán bộ công đoàn chuyên trách là người được cấp có thẩm quyền chỉ định, tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được đại hội, hội nghị công đoàn các cấp bầu ra để đảm nhiệm công việc thường xuyên trong tổ chức công đoàn.

- Cán bộ công đoàn không chuyên trách là người làm việc kiêm nhiệm, do đoàn viên tín nhiệm bầu và được cấp có thẩm quyền của công đoàn công nhận hoặc chỉ định vào các chức danh từ tổ phó công đoàn trở lên. Và theo Hướng dẫn thi hành Điều lệ Công đoàn Việt Nam số 03/HD-TLĐ ngày 20/2/2020 của Đoàn Chủ tịch Tổng Liên đoàn LĐVN, cán bộ công đoàn theo quy định tại Điều 4 - Điều lệ Công đoàn Việt Nam nói trên, bao gồm: Cán bộ công đoàn bao gồm: Tổ trưởng, tổ phó công đoàn, ủy viên ban chấp hành công đoàn các cấp; ủy viên ủy ban kiểm tra công đoàn các cấp, thành viên các ban quần chúng của công đoàn các cấp thông qua bầu cử hoặc cấp công đoàn có thẩm quyền chỉ định. Cán bộ, công chức làm công tác chuyên môn, nghiệp vụ trong tổ chức bộ máy của công đoàn các cấp. Quản lý cán bộ công đoàn - Cán bộ công đoàn chuyên trách và không chuyên trách do tổ chức công đoàn ra quyết định công nhận (theo phân cấp đối với từng cấp công đoàn).

- Cán bộ công đoàn chuyên trách hưởng lương từ nguồn tài chính công đoàn do công đoàn trực tiếp quản lý, thực hiện chính sách cán bộ theo quy định về phân cấp quản lý cán bộ của Đảng và của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. - Cán bộ công đoàn chuyên trách không hưởng lương từ nguồn tài chính công đoàn và cán bộ công đoàn không chuyên trách thì việc quản lý và thực hiện chính sách cán bộ do tổ chức công đoàn và đơn vị, doanh nghiệp cùng phối hợp thực hiện theo nguyên tắc: Đơn vị, doanh nghiệp thực hiện trả lương, nâng ngạch, bậc lương và các chế độ, chính sách quản lý cán bộ theo quy định chung của đơn vị, doanh nghiệp. Công đoàn cấp trên chỉ đạo, kiểm tra, hướng dẫn về 8 nghiệp vụ và nội dung hoạt động công đoàn; giám sát việc thực hiện chính sách đối với cán bộ công đoàn theo quy định của pháp luật và thực hiện chế độ phụ cấp theo quy định của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. Người giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý là người đại diện chủ doanh nghiệp hoặc người được quyền ký hợp đồng lao động trong các doanh nghiệp ngoài khu vực nhà nước; người giữ chức vụ tổng giám đốc, giám đốc doanh nghiệp nhà nước, thủ trưởng các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp khu vực nhà nước, không được kiêm nhiệm chức vụ chủ tịch công đoàn cơ sở.

Cũng tại Hướng dẫn thi hành Điều lệ Công đoàn Việt Nam hiện hành, thì cán bộ công đoàn chuyên trách và không chuyên trách do tổ chức công đoàn ra quyết định công nhận, theo phân cấp đối với từng cấp công đoàn. Đào tạo, bồi dưỡng 1. Đào tạo Đào tạo: Sự xuất hiện của nền kinh tế tri thức trong thời đại ngày nay cho thấy đầu tư cho nguồn nhân lực được coi trọng hơn các nguồn đầu tư khác. Đầu tư phát triển nguồn nhân lực được hiểu ở cả 3 mặt: chăm sóc sức khỏe, nâng cao chất lượng cuộc sống và giáo dục đào tạo.

Trong đó giáo dục đào tạo có vai trò quan trọng nhất. Khái niệm giáo dục luôn gắn liền với khái niệm đào tạo. Theo từ điển tiếng Việt, đào tạo được hiểu là “Đào tạo là quá trình tác động đến một con người nhằm làm cho người đó lĩnh hội và nắm những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo…một cách có hệ thống nhằm chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng nhận một sự phân công lao động nhất đinh góp phần của mình vào việc phát triển kinh tế xã hội duy trì và phát triển nền văn minh của loài người. Tùy theo tính chất chuẩn bị cho cuộc sống và lao động, người ta phân biệt đào tạo chuyên môn và đào tạo nghề nghiệp.

Hai loại này gắn bó và hỗ trợ lẫn nhau với những nội dung do đòi hỏi của sản xuất, của các quan hệ xã hội, của tình trạng khoa học, kỹ thuật - công nghệ và văn hóa đất nước. Có nhiều hình thức đào tạo: đào tạo cấp tốc, đào tạo chính quy và không chính quy”. Quan điểm của tác giả Nguyễn Vân Điềm và tác giả Nguyễn Ngọc Quân trong giáo trình Quản Trị Nhân Lực xuất bản năm 2004 cho rằng “Đào tạo là quá trình học tập làm cho người lao động có thể thực hiện được các chức năng 9 nhiệm vụ có hiệu quả hơn trong công tác của họ” (Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân, 2007). Với quan điểm này thì đào tạo cung cấp cho họ các kiến thức cả lý thuyết lẫn thực hành, là một quá trình học tập, thực hiện các hoạt động học tập giúp người lao động để họ có thể thực hiện tốt nhất chức năng nhiệm vụ Theo giáo trình Quản Trị Nhân Lực (Tập II) của trường Đại Học Lao Động - Xã Hội do tác giả Lê Thanh Hà chủ biên, in năm 2009 thì: “Đào tạo là một quy trình có hoạch định và có tổ chức nhằm tăng kết quả thực hiện công việc (Lê Thanh Hà, 2009).

Với cách hiểu này, việc đào tạo phải được thiết kế sao cho thỏa mãn được nhu cầu đã xác định, có phân công vai trò và trách nhiệm của những người đã tham gia và có xác định mục tiêu rõ ràng. Theo giáo trình Quản Trị Nhân Lực (Tập II) của trường Đại Học Lao Động - Xã Hội do tác giả Lê Thanh Hà chủ biên, in năm 2009 thì: “Đào tạo là một quy trình có hoạch định và có tổ chức nhằm tăng kết quả thực hiện công việc (Lê Thanh Hà, 2009). Với cách hiểu này, việc đào tạo phải được thiết kế sao cho thỏa mãn được nhu cầu đã xác định, có phân công vai trò và trách nhiệm của những người đã tham gia và có xác định mục tiêu rõ ràng. Đào tạo trong tổ chức có bốn dạng cơ bản: đào tạo mới, đào tạo lại, đào tạo bổ sung và đào tạo nâng cao.

Bồi dưỡng Theo Từ điển tiếng Việt do GS Hoàng Phê chủ biên (NXB. Từ điển Bách khoa, Hà Nội, 2010) thì bồi dưỡng là làm cho tăng thêm sức của cơ thể bằng chất bổ và tăng thêm năng lực hoặc phẩm chất. Theo Đại từ điển do Nguyễn Như Ý chủ biên (Nguyễn Như Ý, 2003) thì bồi dưỡng đó là làm cho khỏe thêm, mạnh thêm và tốt hơn, giỏi hơn. Theo Nghị định số 101/2017/NĐ-CP ngày 01/9/2017 của Chính phủ về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức đã đưa cách hiểu về bồi dưỡng như sau: Bồi dưỡng là hoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng làm việc (Nghị định số 101/2017/NĐ-CP, 2017).

Từ các cách hiểu trên, có thể là định nghĩa lại về bồi dưỡng: bồi dưỡng là quá trình truyền đạt thêm một lượng kiến thức nhất định cho một đối tượng học tập cụ thể trong đó không nhất thiết phải làm rõ về quá trình và hệ phương pháp 10 truyền đạt, cũng không nhất thiết phải thay đổi cơ bản chất lượng năng lực và kiến thức người học, mà chỉ cần cung cấp thêm năng lực và kiến thức cho họ. Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Công đoàn Đào tạo, đồi dưỡng là khâu quan trọng và là nhiệm vụ thường xuyên của công tác quản lý nhân lực trong các doanh nghiệp nhằm trang bị cho đội ngũ cán bộ nói chung cũng như cán bộ công đoàn nói riêng những kiến thức, kỹ năng, thái độ… cần thiết để đội ngũ này có thể đáp ứng càng tốt hơn những yêu cầu, đòi hỏi của tình hình, nhiệm vụ mới, đặc biệt là trong điều kiện xây dựng đội ngũ cán bộ công đoàn có cơ cấu hợp lý, đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng để hoàn thành các mục tiêu đề ra. Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng góp phần cải tiến và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động thực thi nhiệm vụ của cán bộ công đoàn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Giải Pháp Tăng Cường Đào Tạo Cán Bộ Công Đoàn Tại Doanh Nghiệp Thị Xã Đông Triều, Quảng Ninh" trình bày những giải pháp thiết thực nhằm nâng cao chất lượng đào tạo cán bộ công đoàn trong bối cảnh phát triển kinh tế xã hội tại địa phương. Tài liệu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đào tạo và bồi dưỡng kỹ năng cho cán bộ công đoàn, từ đó giúp họ thực hiện tốt hơn vai trò của mình trong việc bảo vệ quyền lợi của người lao động và thúc đẩy sự phát triển bền vững của doanh nghiệp.

Độc giả sẽ tìm thấy nhiều lợi ích từ tài liệu này, bao gồm những phương pháp cụ thể để cải thiện quy trình đào tạo, cũng như các ví dụ thực tiễn từ các doanh nghiệp thành công. Điều này không chỉ giúp nâng cao năng lực của cán bộ công đoàn mà còn góp phần vào sự phát triển chung của thị xã Đông Triều.

Nếu bạn muốn mở rộng thêm kiến thức về lĩnh vực này, hãy tham khảo các tài liệu liên quan như Luận án ts tác động của hoạt động đào tạo bồi dưỡng tới năng lực quản lý của cán bộ công chức chính quyền cấp xã nghiên cứu tại thành phố cần thơ, nơi bạn có thể tìm hiểu về ảnh hưởng của đào tạo đến năng lực quản lý. Bên cạnh đó, Luận văn nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý chủ chốt cấp xã trên địa bàn huyện thường xuân tỉnh thanh hóa cũng sẽ cung cấp thêm thông tin về việc nâng cao chất lượng đội ngũ lãnh đạo. Cuối cùng, bạn có thể tham khảo Luận văn thạc sĩ luật học pháp luật việc làm và giải quyết việc làm ở việt nam để hiểu rõ hơn về các chính sách việc làm và giải quyết việc làm tại Việt Nam. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn sâu sắc hơn về các vấn đề liên quan đến đào tạo và phát triển nguồn nhân lực.