Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn cải hành chính thuế Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Chươ cải cách hành chính thuế tại Cục thuế tỉnh Tuyên Quang. Chương 4: Một số giải pháp cách hành chính thuế tại Cục thuế tỉnh Tuyên Quang. 4 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH THUẾ 1. Cơ cải cách hành chính thuế 1.
Hành chính thuế Hiện nay, tuy còn có một số cách nhìn nhận khác nhau về khái niệm "hành chính", song nhìn chung đều thừa nhận "quản lý" là một trong những yếu tố cấu thành nội hàm của khái niệm này. Do đó, có thể hiểu "hành chính" là khái niệm để chỉ hoạt động mang tính "quản lý". Hành chính là quá trình tổ chức chấp hành pháp luật, bao gồm các nội dung cơ bản như tổ chức bộ máy hành pháp, tổ chức cơ chế thực thi quyền hành pháp. Từ đó suy ra "hành chính nhà nước" là khái niệm chỉ hoạt động quản lý nhà nước, hoặc như một số nước hiện nay còn gọi là quản lý "khu vực công".
Hành chính thuế là quá trình tổ chức, quản lý việc chấp hành pháp luật thuế. Hành chính thuế là công việc của cơ quan quản lý Nhà nước nhằm đảm bảo sự tuân thủ pháp luật thuế của đối tượng nộp thuế và cán bộ thuế. Hành chính thuế bao gồm việc xây dựng các TTHC thuế, tổ chức bộ máy quản lý thuế, xây dựng lực lượng cán bộ thuế, tổ chức quy trình thu nộp thuế và thực hiện giám sát, cưỡng chế thi hành pháp luật thuế. Từ khái niệm trên, có thể thấy rằng, hành chính thuế là một lĩnh vực xuyên suốt quá trình tổ chức thi hành pháp luật thuế, từ khâu tuyên truyền, phổ biến pháp luật thuế đến khâu quản lý, giám sát quá trình thu nộp thuế.
Để triển khai có hiệu quả pháp luật thuế, thực hiện thu đúng, thu đủ và thu kịp thời thì việc tổ chức bộ máy quản lý thuế hợp lý, xây dựng lực lượng cán bộ thuế có đủ phẩm chất, trình độ; tổ chức quy trình nộp thuế đơn giản, hiện đại và tăng cường hiệu lực công tác giám sát, cưỡng chế thi hành pháp luật thuế là những bước công việc vô cùng quan trọng. Do đó, có thể khẳng định rằng, 5 hành chính thuế đã, đang và sẽ là vấn đề cần được quan tâm trong việc hoàn thiện hệ thống thuế của các quốc gia. Cải cách hành chính thuế "Cải cách" là thay đổi những bộ phận cũ không hợp lý cho thành mới, đáp ứng yêu cầu của tình hình khách quan. Cải cách bao gồm tập hợp của nhiều cải tiến, sáng kiến, biến đổi.
Vì "hành chính nhà nước" là hoạt động quản lý nhà nước nên có thể hiểu CCHC là cải cách cơ chế quản lý nhà nước như trong Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI viết: "Thực hiện một cuộc cải cách lớn về tổ chức bộ máy của các cơ quan nhà nước, theo phương hướng xây dựng và thực hiện một cơ chế quản lý nhà nước thể hiện quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động ở tất cả các cấp". Như vậy, có thể hiểu CCHC là quá trình cải biến có kế hoạch cụ thể để đạt mục tiêu hoàn thiện một hay một số nội dung của nền hành chính nhà nước (thể chế, cơ cấu tổ chức, chuẩn hoá đội ngũ cán bộ, công chức…) nhằm xây dựng một nền hành chính hiệu lực, hiệu quả và hiện đại. Tóm lại là sự thay đổi có kế hoạch nền hành chính nhà nước phù hợp với tình hình mới. CCHC là một khái niệm đã được nhiều học giả, các nhà nghiên cứu hành chính trên thế giới đưa ra, dựa trên các điều kiện về chế độ chính trị, kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia, cũng như phụ thuộc vào quan điểm và mục tiêu nghiên cứu, do đó hầu hết các định nghĩa này là khác nhau.
Tuy nhiên, qua xem xét, phân tích dưới nhiều góc độ định nghĩa của khái niệm, có thể thấy các khái niệm về CCHC được nêu ra có một số điểm thống nhất sau: - CCHC là một sự thay đổi có kế hoạch, theo một mục tiêu nhất định, được xác định bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền; - CCHC không làm thay đổi bản chất của hệ thống hành chính mà chỉ làm cho hệ thống này trở nên hiệu quả hơn, phục vụ nhân dân được tốt hơn so với trước, chất lượng các thể chế quản lý nhà nước đồng bộ, khả thi, đi vào cuộc sống hơn, cơ chế hoạt động, chức năng, nhiệm vụ của bộ máy, chất 6 lượng đội ngũ cán bộ, công chức làm việc trong các cơ quan Nhà nước sau khi tiến hành CCHC đạt hiệu quả, hiệu lực hơn, đáp ứng yêu cầu quản lý kinh tế - xã hội của một quốc gia. - CCHC tuỳ theo điều kiện của từng thời kỳ, giai đoạn của lịch sử, yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia, có thể được đặt ra những trọng tâm, trọng điểm khác nhau, hướng tới hoàn thiện một hoặc một số nội dung của nền hành chính, đó là tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ, công chức thể chế pháp lý, hoặc tài chính công.v… CCHC thuế là một trong những nội dung của chương trình CCHC tổng thể của đất nước, là một quá trình liên tục theo định hướng nhất định nhằm làm cho hoạt động của ngành thuế đáp ứng với yêu cầu của sự vận động phát triển của nền kinh tế - xã hội. Thủ tục hành chính thuế Thủ tục hành chính (TTHC) hiểu theo nghĩa chung nhất là trình tự các bước tiến hành công việc thuộc chức năng quản lý nhà nước của một cơ quan hành chính. Trong quá trình CCHC thì cải cách TTHC đóng vai trò quan trọng.
Trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao, các cơ quan hành chính thường phải giải quyết công việc với nhau (với cấp trên, cấp dưới, cùng cấp) và giải quyết công việc với tổ chức, công dân. Trong đó, trình tự các bước tiến hành công việc giữa cơ quan hành chính với công dân, tổ chức gọi là TTHC giữa Nhà nước với công dân, tổ chức. Trong xã hội có sự quản lý của nhà nước, mọi công dân, tổ chức đều có quyền và nghĩa vụ sống và làm việc theo pháp luật. Do đó, TTHC giữa Nhà nước với công dân, tổ chức là trình tự các bước thực hiện quyền và nghĩa vụ hợp pháp của công dân, tổ chức; do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định.
Chính vì vậy, TTHC vừa là công cụ thực hiện chức năng quản lý nhà nước của cơ quan hành chính vừa là điều kiện để công dân, tổ chức thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình. Sự cần thiết của cải cách hành chính thuế 1. Yêu cầu phát triển của nền kinh tế xã hội Trong cơ cấu tổ chức nhà nước của nhiều quốc gia hiện nay, Chính phủ là cơ quan hành pháp, có chức năng thực hiện vai trò quản lý Nhà nước trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, bao gồm cả việc cung cấp dịch vụ công. Để thực hiện được chức năng đó, nền hành chính Nhà nước được tổ chức phù hợp với thể chế chính trị - pháp lý, có tính chất liên tục, tương đối ổn định, chuyên môn hoá, có thứ bậc chặt chẽ và không vụ lợi.
Không riêng ở nước ta mà ngay từ những năm giữa thế kỷ XX, cải cách nền hành chính Nhà nước đã trở thành xu hướng chung của nhiều quốc gia trên thế giới. Đặc trưng cơ bản của xu hướng này là chuyển từ mô hình nhà nước truyền thống sang nhà nước phúc lợi chung; từ nền hành chính cai trị là chủ yếu sang nền hành chính phục vụ; từ phương thức quản lý tập trung sang phương thức quản lý phi tập trung. Theo xu hướng trên, Nhà nước không chỉ là bộ máy được tổ chức ra để cai trị, mà còn là người cung cấp dịch vụ công cho công dân và các tổ chức. Xuất phát từ nhiệm vụ công tác quản lý thuế trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Trong thời gian tới khi nền kinh tế đất nước ngày càng phát triển thì nhiệm vụ công tác thuế càng nặng nề, phải huy động đầy đủ các nguồn thu vào ngân sách nhà nước (NSNN) chẳng những đảm bảo nhu cầu chi thường xuyên của Nhà nước và giành một phần lớn nguồn lực tài chính cho tích luỹ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Số lượng NNT sẽ tăng lên nhanh chóng. Hàng năm sẽ có thêm hàng vạn doanh nghiệp và hộ kinh doanh ra đời, quy mô kinh doanh của các doanh nghiệp ngày càng lớn, hoạt động không chỉ bó hẹp ở một địa phương mà mở rộng ra toàn quốc gia và toàn cầu; hoạt động kinh doanh ngày càng đa dạng và phong phú. Hơn nữa cùng với việc ban hành một số sắc thuế mới, số lượng NNT sẽ tăng nhanh, 8 làm cho công tác quản lý thuế ngày càng phức tạp. Các doanh nghiệp cũng có xu hướng áp dụng các phương thức quản lý hiện đại, đòi hỏi cần phải cải cách hơn nữa công tác quản lý thuế để theo kịp và đáp ứng với sự phát triển nhanh chóng và xu hướng hiện đại hoá công tác quản lý của nền kinh tế.
Xuất phát từ yêu cầu hội nhập quốc tế Xu thế hội nhập, liên kết kinh tế quốc tế trong khu vực tiến tới toàn cầu hoá kinh tế là tất yếu khách quan. Trong xu thế đó, Việt Nam muốn tồn tại, phát triển và nâng cao vị thế của mình ngoài việc xây dựng hệ thống chính sách thuế tương thích, công tác quản lý thuế phải được cải cách và hiện đại hoá theo các chuẩn mực quản lý thuế quốc tế nhằm tạo điều kiện thuận lợi để thu hút mạnh mẽ đầu tư nước ngoài, tạo môi trường thuận lợi, đồng nhất về thuế để phát triển kinh tế xã hội đất nước. - Trước tình hình đó, đòi hỏi cần phải cải cách hệ thống thuế cho phù hợp để vừa bảo hộ hợp lý có chọn lọc sản xuất trong nước, đặc biệt là các ngành kinh tế quan trọng đang còn non trẻ khuyến khích đầu tư công nghệ mới, nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của sản phẩm, ngành hàng và nền kinh tế lại vừa chủ động hội nhập, thực hiện chính sách mở cửa để thu hút đầu tư, mở rộng thị trường xuất khẩu, đảm bảo ổn định và tăng trưởng nguồn thu NSNN. Trong quá trình hội nhập, ngoài lĩnh vực thuế đầu tư trực tiếp (FDI), các hình thức đầu tư gián tiếp từ nước ngoài vào Việt Nam sẽ ngày càng phong phú, đa dạng hơn.