Tổng quan nghiên cứu

Khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) giữ vai trò động lực cốt lõi trong nền kinh tế Việt Nam khi chiếm tới 97% tổng số doanh nghiệp đăng ký, đóng góp hơn 45% GDP và tạo ra 50,1% việc làm cho lực lượng lao động xã hội. Tại trung tâm kinh tế trọng điểm như Thành phố Hồ Chí Minh, khu vực này thể hiện tính năng động vượt bậc nhưng luôn đối mặt với rào cản mang tính sống còn về nguồn lực tài chính, công nghệ lạc hậu trên 50% và năng lực quản trị hạn chế. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là giải quyết điểm nghẽn trong cơ chế hỗ trợ tài chính công nhằm tạo đòn bẩy thúc đẩy năng lực cạnh tranh cho khối doanh nghiệp dân doanh.

Mục tiêu cụ thể của công trình là hệ thống hóa cơ sở lý luận, phân tích toàn diện thực trạng các công cụ tài chính Nhà nước đã triển khai, đồng thời đúc kết bài học kinh nghiệm quốc tế từ Nhật Bản và Hàn Quốc để xây dựng hệ thống giải pháp tài chính đồng bộ. Phạm vi không gian nghiên cứu tập trung tại Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn biến động kinh tế 1999 – 2010, với định hướng phát triển đến giai đoạn 2011 – 2015.

Ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu được lượng hóa rõ nét qua việc đánh giá các công cụ đòn bẩy: chỉ tiêu doanh số bảo lãnh của Quỹ Bảo lãnh tín dụng đạt 424,53 tỷ đồng vào tháng 9/2010 (gấp 2,18 lần vốn điều lệ), giúp doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn với hệ số 1,88 đồng vốn vay trên 1 đồng bảo lãnh. Kết quả nghiên cứu cung cấp luận cứ khoa học vững chắc giúp các nhà hoạch định chính sách hoàn thiện khung khổ pháp lý, tối ưu hóa phân bổ nguồn vốn ngân sách và nâng cao hiệu quả hoạt động của các định chế tài chính công tại đô thị lớn nhất cả nước.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng Lý thuyết Thất bại Thị trường (Market Failure Theory) và Lý thuyết Bất cân xứng Thông tin (Asymmetric Information) của Stiglitz & Weiss để giải thích hiện tượng phân bổ tín dụng dưới mức tối ưu đối với khối doanh nghiệp quy mô nhỏ. Khi các ngân hàng thương mại thiếu thông tin minh bạch, rủi ro đạo đức và lựa chọn nghịch xuất hiện, buộc Nhà nước phải can thiệp bằng các công cụ tài khóa và tín dụng ưu đãi. Đồng thời, tác giả áp dụng Lý thuyết Nhà nước Kiến tạo với Mô hình "Tạo điều kiện thuận lợi để DNNVV phát triển" (Facilitator Model) – mô hình coi Nhà nước là chủ thể xây dựng thể chế và chia sẻ rủi ro thay vì trực tiếp bao cấp.

Khung mô hình nghiên cứu đối chiếu 4 mô hình phát triển DNNVV điển hình trên thế giới: mô hình định hướng chính trị, mô hình xúc tiến có lựa chọn, mô hình thị trường tự do và mô hình tạo điều kiện phát triển. Hệ thống khái niệm then chốt được chuẩn hóa gồm: Doanh nghiệp nhỏ và vừa theo tiêu chí phân loại của Nghị định 90/2001/NĐ-CP (vốn dưới 10 tỷ đồng hoặc dưới 300 lao động) và Nghị định 56/2009/NĐ-CP (chia 3 cấp siêu nhỏ, nhỏ, vừa với quy mô vốn tối đa 100 tỷ đồng), Cơ chế hỗ trợ tài chính công, Bảo lãnh tín dụng (Credit Guarantee) và Tín dụng nhà nước.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp từ Niên giám Thống kê của Cục Thống kê Thành phố Hồ Chí Minh, báo cáo tổng kết của Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội cùng dữ liệu vận hành thực tế của Quỹ Bảo lãnh tín dụng Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 1999 – 2010. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát thực tế với cỡ mẫu gồm 378 doanh nghiệp trên địa bàn thành phố.

Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng được áp dụng theo từng lĩnh vực: công nghiệp chế biến, xây dựng, nông nghiệp và thương mại dịch vụ nhằm đảm bảo tính đại diện cao cho cấu trúc kinh tế địa phương. Lý do lựa chọn kết hợp phương pháp thống kê mô tả, phân tích định lượng và phương pháp chuyên gia là vì sự kết hợp này giúp đánh giá chuẩn xác cả về quy mô biến động dòng vốn lẫn chiều sâu cơ chế vận hành chính sách, hạn chế sai lệch khi phân tích chính sách công trong timeline chuyển giao thể chế kinh tế.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát trên 378 doanh nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2008 – 2009 chỉ ra nhu cầu vốn tín dụng của khu vực này ở mức đặc biệt cao: 98% doanh nghiệp ngành công nghiệp và 100% doanh nghiệp ngành xây dựng có nhu cầu vay vốn ngân hàng. Đáng chú ý, có tới 78% doanh nghiệp công nghiệp và 83% doanh nghiệp xây dựng có tỷ lệ đòn bẩy nợ trên tổng tài sản vượt mức 50%, phản ánh tình trạng phụ thuộc lớn vào nguồn vốn vay bên ngoài nhưng gặp trở ngại nghiêm trọng do thiếu tài sản thế chấp.

Quy mô vốn bình quân trên mỗi doanh nghiệp thành lập mới có xu hướng sụt giảm, từ mức 12,6 tỷ đồng năm 2008 xuống còn 10,95 tỷ đồng năm 2009. Cùng với đó, rào cản công nghệ thể hiện rõ rệt khi tỷ lệ máy móc thiết bị lạc hậu chiếm trên 50%, tốc độ đổi mới công nghệ chỉ đạt 10%/năm (thấp hơn nhiều so với mức bình quân 15% của các nước công nghiệp phát triển), khiến chu kỳ đổi mới toàn diện kéo dài tới 10 năm.

Hoạt động của Quỹ Bảo lãnh tín dụng Thành phố Hồ Chí Minh bước đầu khẳng định vai trò cầu nối tài chính hiệu quả. Tính đến tháng 9/2010, doanh số bảo lãnh lũy kế đạt 424,53 tỷ đồng trên tổng nguồn vốn điều lệ 194,53 tỷ đồng (đạt hệ số 2,18 lần), tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tiếp cận hạn mức tín dụng 797,63 tỷ đồng. Các doanh nghiệp nhận được bảo lãnh ghi nhận mức tăng trưởng doanh thu 22% trong năm 2009 và đóng góp số thuế thu nhập doanh nghiệp tăng 57% (từ 3,98 tỷ đồng năm 2008 lên 6,247 tỷ đồng năm 2009).

Chính sách ngân sách nhà nước đã phát huy vai trò kích cầu quan trọng: chi đầu tư phát triển năm 2008 đạt 16.757 tỷ đồng (chiếm 49% tổng chi ngân sách thành phố) và năm 2009 đạt 20.410 tỷ đồng (chiếm 49,64%). Đồng thời, quyết định miễn giảm 30% thuế thu nhập doanh nghiệp trong giai đoạn 2008 – 2009 cùng chính sách giãn nộp thuế 1 năm đã tạo nguồn bổ sung thanh khoản kịp thời cho hàng ngàn cơ sở sản xuất kinh doanh.

Thảo luận kết quả

Các phát hiện phản ánh thực trạng nguồn vốn chủ sở hữu mỏng và năng lực quản trị hạn chế là nguyên nhân gốc rễ cản trở DNNVV tiếp cận tín dụng chính thức. Khi dữ liệu được mô hình hóa qua bảng tổng hợp nhu cầu vốn theo ngành kinh tế và biểu đồ so sánh tăng trưởng doanh số bảo lãnh giai đoạn 2006 – 2010, sự chênh lệch giữa nhu cầu vốn thực tế và năng lực cung ứng của các định chế tài chính công hiện rõ.

So sánh với các nghiên cứu và mô hình tại Hàn Quốc (tổ chức KODIT và KIBO quản lý rủi ro tín dụng công nghệ) và Nhật Bản (hỗ trợ bù lãi suất 30 tỷ Yên/năm thông qua ngân hàng chính sách), cơ chế hỗ trợ tại Thành phố Hồ Chí Minh còn bộc lộ nhiều điểm nghẽn: nguồn vốn Quỹ Bảo lãnh tín dụng còn hạn hẹp so với tổng số hơn 349.000 doanh nghiệp cả nước, chính sách ưu đãi thuế lồng ghép quá nhiều tiêu chí chồng chéo theo Thông tư 130/2008/TT-BTC dẫn đến khó tiếp cận, và thị trường vốn chưa có phân khúc niêm yết linh hoạt dành riêng cho doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Tăng cường năng lực tài chính và quy mô hoạt động cho Quỹ Bảo lãnh tín dụng: Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cần cấp bổ sung ngân sách để nâng vốn điều lệ của Quỹ lên trên 500 tỷ đồng giai đoạn 2011 – 2015, mở rộng hệ số bảo lãnh an toàn đạt từ 3 đến 5 lần vốn điều lệ, giúp giải phóng hạn mức tín dụng ước tính trên 1.500 tỷ đồng cho các dự án đổi mới công nghệ.
  2. Cải cách chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp theo hướng đơn giản và minh bạch: Bộ Tài chính và Cục Thuế Thành phố Hồ Chí Minh cần bãi bỏ các điều kiện xét miễn giảm chồng chéo, duy trì chính sách giảm 30% thuế thu nhập doanh nghiệp cho các doanh nghiệp thuộc ngành công nghiệp chế biến chủ lực và gia hạn nộp thuế linh hoạt 12 tháng khi thị trường biến động.
  3. Mở rộng cơ chế cho vay tín chấp và tài trợ thuê mua tài chính: Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh chỉ đạo các ngân hàng thương mại dành tối thiểu 35% – 40% tỷ trọng tăng trưởng tín dụng cho khối DNNVV, đồng thời áp dụng mức ưu đãi lãi suất vay thấp hơn từ 1% – 2% so với lãi suất thương mại thông thường cho các dự án sản xuất sạch.
  4. Phát triển thị trường vốn chuyên biệt cho doanh nghiệp nhỏ và vừa: Ủy ban Chứng khoán Nhà nước phối hợp với Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh hoàn thiện sàn giao dịch UPCoM với các tiêu chuẩn vốn linh hoạt từ 10 đến 50 tỷ đồng trong giai đoạn 2011 – 2015, tạo điều kiện cho các công ty cổ phần quy mô nhỏ phát hành trái phiếu và cổ phiếu huy động vốn trung và dài hạn.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách: Cán bộ công tác tại Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính, Chi cục Thuế và Ban điều hành Quỹ Bảo lãnh tín dụng có thể sử dụng dữ liệu luận văn để thiết kế quy trình thẩm định bảo lãnh và xây dựng các gói hỗ trợ kích cầu tài khóa.
  2. Lãnh đạo các Ngân hàng thương mại và Tổ chức tín dụng: Các nhà quản trị ngân hàng sử dụng kết quả nghiên cứu để hoàn thiện mô hình xếp hạng tín dụng nội bộ, tối ưu hóa quy trình định giá tài sản thế chấp và thiết kế gói sản phẩm tín dụng đặc thù cho DNNVV.
  3. Chủ doanh nghiệp và Giám đốc tài chính khối DNNVV: Lãnh đạo các doanh nghiệp tìm thấy định hướng chuẩn hóa báo cáo tài chính, lập dự án kinh doanh khả thi để tiếp cận vốn vay ưu đãi từ ngân sách và quỹ bảo lãnh nhà nước.
  4. Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học: Giới học thuật thuộc các chuyên ngành Kinh tế Tài chính, Tài chính – Ngân hàng và Quản lý kinh tế có thể khai thác khung lý thuyết, bộ số liệu chuỗi thời gian 1999 – 2010 và phương pháp chọn mẫu phân tầng 378 doanh nghiệp làm tài liệu tham khảo cho các công trình nghiên cứu mở rộng.

Câu hỏi thường gặp

Tiêu chí phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa theo Nghị định 56/2009/NĐ-CP có điểm gì mới so với quy định trước đó?

Nghị định 56/2009/NĐ-CP chia DNNVV thành 3 cấp: siêu nhỏ (dưới 10 lao động), nhỏ (tổng vốn dưới 20 tỷ đồng hoặc dưới 200 lao động) và vừa (vốn từ 20 đến 100 tỷ đồng hoặc từ 200 đến 300 lao động), phân định rõ theo 3 nhóm ngành kinh tế thay vì áp dụng một mức chung 10 tỷ đồng như Nghị định 90/2001/NĐ-CP.

Tại sao doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Thành phố Hồ Chí Minh rất khó tiếp cận nguồn vốn tín dụng ngân hàng?

Theo khảo sát trên 378 doanh nghiệp, nguyên nhân chính là do hơn 50% doanh nghiệp có công nghệ lạc hậu, thiếu tài sản bảo đảm chuẩn hóa, báo cáo tài chính chưa được kiểm toán độc lập và phương án sản xuất kinh doanh chủ yếu mang tính ngắn hạn theo thương vụ.

Hoạt động của Quỹ Bảo lãnh tín dụng Thành phố Hồ Chí Minh đạt được kết quả cụ thể nào trong giai đoạn nghiên cứu?

Quỹ đã đạt doanh số bảo lãnh lũy kế 424,53 tỷ đồng với số dư bảo lãnh gấp 1,37 lần vốn điều lệ vào tháng 9/2010. Doanh nghiệp tham gia bảo lãnh đạt mức tăng trưởng doanh thu 22% và tăng mức nộp thuế thu nhập doanh nghiệp 57% trong năm 2009 mà không phát sinh nợ xấu.

Các giải pháp tài khóa nào đã phát huy hiệu quả hỗ trợ doanh nghiệp vượt qua giai đoạn khủng hoảng 2008 – 2009?

Chính phủ và Thành phố đã triển khai gói kích cầu thông qua chi đầu tư phát triển đạt 20.410 tỷ đồng năm 2009, thực hiện miễn giảm 30% thuế thu nhập doanh nghiệp, gia hạn thời gian nộp thuế từ 3 tháng đến 1 năm và cấp bù 100% lãi suất cho các công trình xử lý nước thải tại các khu công nghiệp.

Luận văn khuyến nghị Thành phố Hồ Chí Minh nên áp dụng mô hình can thiệp nào để hỗ trợ DNNVV?

Tác giả khuyến nghị áp dụng Mô hình "Tạo điều kiện thuận lợi để DNNVV phát triển", trong đó Nhà nước đóng vai trò kiến tạo thể chế, hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật, chia sẻ rủi ro tín dụng qua các quỹ bảo lãnh và dần tư nhân hóa các dịch vụ tư vấn tài chính để tránh cơ chế xin - cho.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về cơ chế tài chính công hỗ trợ DNNVV, chỉ rõ vai trò đóng góp trên 45% GDP và 50,1% việc làm của khối kinh tế dân doanh.
  • Đánh giá thực trạng bức tranh tài chính của hơn 378 doanh nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 1999 – 2010, nêu bật nghịch lý nhu cầu vay vốn lên tới 98% nhưng năng lực tiếp cận bị hạn chế bởi rào cản tài sản bảo đảm và công nghệ lạc hậu trên 50%.
  • Kiểm chứng hiệu quả thực tế của Quỹ Bảo lãnh tín dụng Thành phố Hồ Chí Minh với hệ số đòn bẩy 2,18 lần vốn điều lệ, mở ra kênh dẫn vốn an toàn cho khối doanh nghiệp nhỏ.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp chiến lược khả thi về quy mô vốn quỹ bảo lãnh, cải cách chính sách thuế, gói tín dụng ưu đãi 35% – 40% dư nợ và thiết lập phân khúc thị trường vốn chuyên biệt trong giai đoạn 2011 – 2015.
  • Nghiên cứu là tài liệu tham khảo giá trị cho các nhà hoạch định chính sách, tổ chức tín dụng và giới nghiên cứu học thuật trong việc hoàn thiện thể chế tài chính nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp Việt Nam trong thời kỳ hội nhập sâu rộng.