Giải pháp hỗ trợ tài chính từ phía nhà nước đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại TP. Hồ Chí Minh

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu ueh giải pháp hỗ trợ tài chính từ phía nhà nước đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn thành, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ kinh tế

2011

80
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1. Khái quát về Doanh nghiệp nhỏ và vừa

1.2. Đặc điểm của Doanh nghiệp nhỏ và vừa

1.3. Vai trò của Doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam

1.4. Cơ chế hỗ trợ tài chính từ phía Nhà nước đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa

1.4.1. Khái quát về cơ chế hỗ trợ tài chính

1.4.2. Ý nghĩa của chế hỗ trợ tài chính từ phía Nhà nước

1.4.3. Các công cụ được sử dụng trong cơ chế hỗ trợ tài chính từ phía Nhà nước đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa

1.4.4. Kinh nghiệm hỗ trợ tài chính từ phía nhà nước đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa ở một số nước và Chính phủ Việt Nam

1.4.5. Lựa chọn mô hình

1.4.6. Cơ chế hỗ trợ tài chính đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa ở một số nước trên thế giới

1.4.7. Cơ chế hỗ trợ tài chính đối với các DNNVV ở Việt Nam

1.4.8. Bài học kinh nghiệm

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HỖ TRỢ TÀI CHÍNH TỪ PHÍA NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

2.1. Thực trạng các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở TPHCM

2.2. Thực trạng cơ chế hỗ trợ tài chính từ phía nhà nước đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 1999 - 2010

2.2.1. Ngân sách nhà nước

2.2.2. Tín dụng nhà nước

2.2.3. Tín dụng ngân hàng

2.2.4. Thị trường vốn

2.3. Đánh giá các giải pháp hỗ trợ tài chính từ phía nhà nước đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh

2.3.1. Thành tựu đạt được

2.3.2. Hạn chế trong quá trình thực hiện cơ chế tài chính hỗ trợ cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn TPHCM

2.3.3. Nguyên nhân dẫn đến những hạn chế trong quá trình thực hiện cơ chế tài chính hỗ trợ cho các DNNVV trên địa bàn TPHCM

3. CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CƠ CHẾ HỖ TRỢ TÀI CHÍNH TỪ PHÍA NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI TPHCM (2011 – 2015)

3.1. Định hướng phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa tại TPHCM

3.2. Thuận lợi và khó khăn trong thời gian tới đối với DNNVV

3.3. Giải pháp hoàn thiện cơ chế hỗ trợ tài chính từ phía nhà nước đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa ở TPHCM

3.3.1. Các giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện cơ chế hỗ trợ tài chính từ phía Nhà nước đối với DNNVV ở TPHCM

3.3.1.1. Ngân sách nhà nước
3.3.1.2. Tín dụng nhà nước
3.3.1.3. Tín dụng ngân hàng
3.3.1.4. Thị trường vốn
3.3.1.5. Các giải pháp hỗ trợ khác

KẾT LUẬN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về giải pháp tài chính cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tại TP

Doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế TP. Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, việc tiếp cận nguồn vốn và các giải pháp tài chính từ nhà nước vẫn còn nhiều thách thức. Chính phủ đã có nhiều chính sách hỗ trợ nhằm thúc đẩy sự phát triển của DNNVV, nhưng hiệu quả thực tế vẫn chưa đạt được như mong đợi.

1.1. Đặc điểm và vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa

DNNVV chiếm tỷ lệ lớn trong tổng số doanh nghiệp tại TP. Hồ Chí Minh. Chúng không chỉ tạo ra việc làm mà còn đóng góp vào ngân sách nhà nước. Tuy nhiên, quy mô nhỏ và công nghệ lạc hậu là những hạn chế lớn.

1.2. Chính sách tài chính hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa

Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách tài chính nhằm hỗ trợ DNNVV, bao gồm các khoản vay ưu đãi và các chương trình bảo lãnh tín dụng. Tuy nhiên, việc triển khai còn gặp nhiều khó khăn.

II. Thách thức trong việc tiếp cận giải pháp tài chính cho doanh nghiệp nhỏ và vừa

Mặc dù có nhiều chính sách hỗ trợ, DNNVV vẫn gặp khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn. Các vấn đề như thủ tục phức tạp, yêu cầu tài sản đảm bảo cao và thiếu thông tin về các chương trình hỗ trợ là những rào cản lớn.

2.1. Thủ tục vay vốn phức tạp

Nhiều DNNVV gặp khó khăn trong việc hoàn thiện hồ sơ vay vốn do yêu cầu thủ tục phức tạp và thời gian xử lý lâu. Điều này khiến họ không thể tiếp cận kịp thời nguồn vốn cần thiết.

2.2. Thiếu thông tin về các chương trình hỗ trợ

Nhiều doanh nghiệp không nắm rõ thông tin về các chương trình hỗ trợ tài chính từ nhà nước, dẫn đến việc không tận dụng được các cơ hội này.

III. Giải pháp tài chính từ nhà nước cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tại TP

Để nâng cao hiệu quả hỗ trợ tài chính cho DNNVV, cần có những giải pháp cụ thể và đồng bộ từ phía nhà nước. Các giải pháp này bao gồm cải cách thủ tục hành chính, tăng cường thông tin và hỗ trợ tư vấn cho doanh nghiệp.

3.1. Cải cách thủ tục hành chính

Cần đơn giản hóa các thủ tục vay vốn và giảm thời gian xử lý hồ sơ để DNNVV có thể tiếp cận nguồn vốn nhanh chóng hơn.

3.2. Tăng cường thông tin và tư vấn

Nhà nước cần cung cấp thông tin đầy đủ về các chương trình hỗ trợ tài chính và tổ chức các buổi tư vấn cho DNNVV để họ hiểu rõ hơn về quyền lợi và nghĩa vụ của mình.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về hỗ trợ tài chính

Nghiên cứu cho thấy rằng các DNNVV đã có những bước tiến trong việc tiếp cận nguồn vốn nhờ vào các chính sách hỗ trợ tài chính từ nhà nước. Tuy nhiên, vẫn cần có những cải cách để nâng cao hiệu quả hơn nữa.

4.1. Kết quả đạt được từ các chính sách hỗ trợ

Nhiều DNNVV đã thành công trong việc mở rộng quy mô sản xuất và nâng cao năng lực cạnh tranh nhờ vào các khoản vay ưu đãi và hỗ trợ từ nhà nước.

4.2. Những hạn chế cần khắc phục

Mặc dù có những thành công, nhưng vẫn còn nhiều DNNVV chưa tận dụng được các chính sách hỗ trợ do thiếu thông tin và khó khăn trong việc tiếp cận.

V. Kết luận và triển vọng tương lai cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tại TP

Tương lai của DNNVV tại TP. Hồ Chí Minh phụ thuộc vào sự cải cách và hoàn thiện các chính sách hỗ trợ tài chính từ nhà nước. Việc tạo ra một môi trường thuận lợi sẽ giúp DNNVV phát triển bền vững.

5.1. Định hướng phát triển trong tương lai

Cần có những chính sách dài hạn nhằm hỗ trợ DNNVV phát triển bền vững, bao gồm cả việc nâng cao năng lực quản lý và công nghệ.

5.2. Vai trò của nhà nước trong việc hỗ trợ DNNVV

Nhà nước cần tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra các chính sách hỗ trợ tài chính hiệu quả, giúp DNNVV vượt qua khó khăn và phát triển mạnh mẽ.

23/07/2025
Luận văn thạc sĩ ueh giải pháp hỗ trợ tài chính từ phía nhà nước đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn thành phố hồ chí minh

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CƠ CHẾ TÀI CHÍNH NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1. Khái quát về doanh nghiệp nhỏ và vừa 1. Khái niệm Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa được xác định dựa trên tiêu chí qui mô. Nhìn chung, tiêu chí để xác định DNNVV thông thường là: vốn, lao động, doanh thu.

Trên thực tế, việc xác định thế nào là DNNVV thường được xem xét phù hợp với từng giai đoạn phát triển kinh tế, trình độ trang bị kỹ thuật, tình hình giải quyết việc làm và mục đích của việc xác định. Có nước chỉ dùng một tiêu chí, nhưng cũng có nước dùng một số tiêu chí để xác định DNNVV. Có nước dùng tiêu chí chung cho tất cả các ngành, nhưng có nước lại dùng tiêu chí riêng để xác định DNNVV trong từng ngành. Như vậy, tuỳ theo tình hình thực tiễn, các nước khác nhau có thể có những cách lựa chọn tiêu chí khác nhau khi xác định DNNVV.

Có thể khái quát thành 4 quan niệm như sau: - Quan niệm thứ nhất cho rằng: tiêu chuẩn đánh giá xếp loại DNNVV phải gắn với đặc điểm của từng ngành và phải tính đến số lượng vốn và lao động được thu hút vào hoạt động sản xuất kinh doanh. Nhật Bản là nước theo quan niệm này. Bộ luật cơ bản về DNNVV của Nhật quy định: trong lĩnh vực buôn bán DNNVV là những doanh nghiệp thu hút dưới 100 lao động với số vốn nhỏ hơn 30 triệu yên; trong lĩnh vực công nghiệp chế biến và khai thác, các DNNVV là những doanh nghiệp thu hút dưới 300 lao động với số vốn kinh doanh nhỏ hơn 100 triệu yên. - Quan niệm thứ hai cho rằng: tiêu chí đánh giá xếp loại DNNVV không phân biệt ngành nghề mà chỉ căn cứ vào số lao động và số vốn thu hú t vào kinh doanh.

Các nước theo quan niệm này như: Singapore, Malaysia, Thái Lan… Tuy nhiên, độ lớn các ữa các nước. Chẳng hạn như ở Thái Lan: DNNVV là doanh tiêu chí có khác nhau gi nghiệp có số vốn đầu tư dưới 200 triệu baht, còn số lao động bình quân thì dưới 200. Trong khi đó, ở Malaysia, thì DNNVV phải thỏa tiêu chí có số lao động bình quân từ 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 150 trở xuống, không quan tâm đến vốn đầu tư là bao nhiêu, nhưng tổng doanh thu hàng năm phải đạt 0 – 25 triệu RM. - Quan niệm thứ ba cho rằng: ngoài các tiêu thức về lao động và vốn kinh doanh, tiêu chuẩn để đánh giá xếp loại DNNVV còn quan tâmđến doanh thu hàng năm của doanh nghiệp.

Các nước theo quan niệm này có Canada, Indonesia… Chẳng hạn như ở Cananda, DNNVV phải thỏa tiêu chí như sau: doanh nghiệp nhỏ có số lao động bình quân dưới 100, tổng doanh thu hàng năm nhỏ hơn 5 triệu CDN$; doanh nghiệp vừa có số lao động bình quân dưới 500, tổng doanh thu hàng năm từ 5 – 20 triệu CDN$. Ở quốc gia này không quy định mức vốn đầu tư cho DNNVV. - Quan niệm thứ tư cho rằng: tiêu chí để xác định DNNVV là số lượng lao động tham gia, có phân biệt hoặc không phân biệt ngành nghề. Quan niệm này nhằm mục đích để Nhà nước có chính sách đối với doanh nghiệp trong vấn đề thu hút lao động, giải quyết việc làm.

Các nước theo quan niệm này có Australia , HongKong,… Cụ thể như ở Australia, DNNVV chỉ cần thỏa điều kiện có số lao động bình quân dưới 200, không cần để ý đến vốn đầu tư và tổng doanh thu hàng năm như các nhóm khác. Ở Việt Nam, tại Nghị định số 90/2001/NĐ-CP ngày 23/11/2001 của Chính Phủ về trợ giúp phát triển DNNVV. Theo đó, DNNVV được định nghĩa là cơ sở sản xuất kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hằng năm không quá 300 người. Với cách xác định DNNVV như trên của Việt Nam, chủ yếu sử dụng tiêu thức vốn đầu tư và số lượng lao động để xem xét.

Hạn chế của khái niệm trên chưa chú ý đến tính chất ngành kinh tế - kỹ thuật tác động doanh nghiệp. Do đó ngày 30/6/2009, Chính Phủ đã ban hành Nghị định số 56/2009/NĐ-CP về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, khái niệm “DNNVV” đã được Chính phủ định nghĩa như sau: “Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể như sau: 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.1: tiêu chí phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa Quy mô DN siêu nhỏ Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa Khu vực Số lao động Tổng nguồn vốn Số lao động Tổng nguồn vốn Số lao động Từ trên 200 I. Nông, lâm 10 người trở 20 ỷt đồng trở Từ trên 10 Từ trên 20 tỷ người đến 300 nghiệp và thuỷ xuống xuống người đến đồng đến 100 tỷ người sản 200 người đồng 10 người trở Từ trên 10 Từ trên 20 tỷ Từ trên 200 II. Công 20 ỷt đồng trở xuống người đến đồng đến 100 tỷ người đến 300 nghiệp và xây xuống 200 người đồng người dựng 10 người trở Từ trên 10 Từ trên 10 tỷ Từ trên 50 III.

Thương 10 ỷt đồng trở xuống người đến đồng đến 50 tỷ người đến 100 mại và dịch vụ xuống 50 người đồng người Nguồn: Nghị định 56/2009/NĐ-CP ngày 20/8/2009 của Chính Phủ Nghị định 56/2009/NĐ-CP này có hiệu lực từ ngày 20/8/2009 và thay thế Nghị định 90/2001/NĐ-CP ngày 23/11/2001. Để thấy được ưu điểm của tiêu chí phân loại DNNVV mới, trong phạm vi đề tài nghiên cứu này, chúng tôi xin sử dụng tiêu chí xác định DNNVV từ năm 2005 – 2008 theo tinh thần Nghị định 90/2001/NĐ-CP và tiêu chí xác định DNNVV năm 2009 theo tinh thần Nghị định 56/2009/NĐ-CP. Với cách xác định như trên thì về mặt số lượng, DNNVV chiếm tỷ lệ lớn trong tất cả các doanh nghiệp ở Việt Nam. Theo tiêu chí vốn, trong tổng số 45.076 doanh nghiệp được điều tra trong cuộc tổng điều tra năm 2007 có tới hơn 42.672 doanh nghiệp là các DNNVV, chiếm tỷ lệ 94% tổng số doanh nghiệp.

Còn nếu căn cứ vào tiêu chí lao động thì DNNVV cũng chiếm gần 98% trong tổng số các doanh nghiệp. Đặc điểm của DNNVV - DNNVV tồn tại và phát triển ở hầu hết các ngành, các lĩnh vực và chiếm tỷ lệ đa số trong tất cả các thành phần kinh tế. - DNNVV có tính năng động cao trước những thay đổi của thị trường, có khả năng chuyển hướng kinh doanh, có khả năng chuyển hướng mặt hàng nhanh vì vốn đầu 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tư ít, thu hồi vốn nhanh. Tuy nhiên, do vốn đầu tư ít nên địa điểm hoạt động không ổn định, cơ sở vật chất và trình độ kỹ thuật yếu kém, lạc hậu, không đồng bộ, do vậy rất khó khăn trong việc ứng dụng công nghệ và kỹ thuật hiện đại vào sản xuất kinh doanh.

Cũng vì nguồn tài chính hạn hẹp nên quá trình tích tụ và tập trung vốn để tái đầu tư phát triển diễn ra chậm chạp và khi rơi vào tình trạng suy thoái thì dễ lâm vào phá sản. - Bộ máy tổ chức quản lý được thiết kế gọn nhẹ, các quy định quản lý được đưa ra và thực hiện nhanh chóng, không ách tắc phiền hà, tiết kiệm chi phí quản lý. - Có thể bước vào thị trường mà không thu hút sự chú ý của các doanh nghiệp lớn, sẵn sàng phục vụ ở những nơi xa xôi nhất, nhất là các khoảng trống nhỏ của thị trường, để từ đó tạo nên sự phát triển cân bằng giữa các vùng. Song trình độ quản lý sản xuất kinh doanh còn nhiều hạn chế, thiếu các thông tin về thị trường trong và ngoài nước.

Do vậy khó có khả năng thâm nhập vào thị trường quốc tế và việc mở rộng thị phần nói chung. - Dễ phát huy bản chất hợp tác: DNNVV thường chỉ tiến hành một hay vài công đoạn trong quá trình sản xuất một sản phẩm hoàn chỉnh mà các công đoạn sản xuất phải kết hợp với nhau để tạo ra một sản phẩm hoàn thành đưa ra tiêu thụ trên thị trường. Do vậy doanh nghiệp phải hoàn thiện chính mình và tiến hành hợp tác. - Thu hút nhiều lao động trung bình và thấp, khi cần tuyển chọn lao động có trình độ tay nghề cao thường gặp khó khăn do khả năng trả lương thấp và việc thực hiện các chế độ về bảo hiểm, điề u kiện lao động cũng không được như các doanh nghiệp lớn.

- Không đủ điều kiện cũng như chưa quan tâm đúng mức đến các chương trình chiến lược lâu dài mà thường kinh doanh theo hướng trước mắt, ngắn hạn. Vai trò của Doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nền k inh tế thị trường ở Việt Nam. Trong 10 năm qua, nền kinh tế nước ta có những bước phát triển không ngừng, gặt hái được nhiều thành công. Tốc độ tăng trưởng kinh tế tương đối cao, ngay cả trong những năm khủng hoảng kinh tế toàn cầu; mức tăng trưởng bình quân đạt 7,2%/năm trong thời kỳ 2001 – 2010 (7,5% giai đoạn 2001 – 2005 và gần 7% giai đoạn 2006 – 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.

GDP bình quânđầu người theo giá thực tế vào nă m 2010 ước khoảng 1.200 USD$, đưa nước ta vào hàng ngũ các quốc gia có thu nhập trung bình thấp , thu hẹp đáng kể khoảng cách phát triển so với các nền kinh tế khác trong khu vực. Đạt được những thành quả đó, phải nói đến sự đóng góp đáng kể của DNNVV. DNNVV đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy kinh tế tăng trưởng, tăng thu nhập quốc dân. DNNVV với quy mô nhỏ và vừa, mức độ đầu tư không lớn, linh hoạt, rất phù hợp cho phát triển kinh tế dân doanh.

DNNVV là phương thức phù hợp và hữu hiệu để huy động nguồn lực từ dân cho phát triển kinh tế.900 doanh nghiệp, chủ yếu là các DNNVV đã đăng ký mới với số vốn đăng ký 1.000 tỷ đồng, đưa tổng số các doanh nghiệp trong cả nước lên 349.300 doanh nghiệp với tổng số vốn đăng ký trên 1. Từ năm 2005 cho đến nay, bình quân hàng năm khu vực DNNVV thuộc các thành phần kinh tế đóng góp hơn 45% GDP và riêng khu vực kinh tế tư nhân trong nước đã đóng góp 40% GDP hàng năm.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ