CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Cơ sở lý luận về hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp 1. Khái niệm hiệu quả kinh doanh Hiệu quả kinh doanh là mối quan tâm hàng đầu của mỗi doanh nghiệp. Đề cập đến hiệu quả kinh doanh, trên thực tế có rất nhiều quan điểm khác nhau: Theo Adam Smith – nhà kinh tế học người Anh: “Hiệu quả là kết quả đạt được trong hoạt động kinh tế, là doanh thu tiêu thụ hàng hóa”.
Tác giả đã bỏ qua yếu tố chi phí trong xác định hiệu quả kinh doanh. Nếu cùng kết quả kinh doanh nhưng có chi phí khác nhau thì doanh nghiệp vẫn có cùng mức hiệu quả. Như vậy, theo quan điểm này, tác giả đã đồng nhất hiệu quả với kết quả kinh doanh. Trong cuốn giáo trình Kinh tế học (1991), P.
Nordhaus cho rằng: “Hiệu quả sản xuất diễn ra khi xã hội không thể tăng sản lượng một loại hàng hóa mà không cắt giảm sản lượng của một loại hàng hóa khác. Một nền kinh tế có hiệu quả nằm trên giới hạn khả năng sản xuất của nó”. Quan điểm này thực chất đề cập đến khía cạnh phân bổ hiệu quả các nguồn lực kinh tế. Một số quan điểm khác cho rằng hiệu quả kinh doanh được xác định bởi tỷ số kết quả đạt được chia cho chi phí bỏ ra để có được kết quả đó.
Điển hình là Manfred Kuhn (1990) trong Từ điển Kinh tế, theo tác giả: “Tính hiệu quả được xác định bằng cách lấy kết quả tính theo đơn vị giá trị chia cho chi phí kinh doanh”. Samuelon cũng đã đưa ra quan điểm của mình trong cuốn Kinh tế học: “Hiệu quả tức là sử dụng một các hữu hiệu nhất các nguồn lực của nền kinh tế để thỏa mãn nhu cầu mong muốn của con người”. Từ các quan điểm trên có thể hiểu một cách khái quát hiệu quả kinh doanh là phạm trù phản ánh trình độ lợi dụng của các nguồn lực (nhân, tài, vật lực, tiền vốn) để đạt được mục tiêu xác định. Trình độ lợi dụng các nguồn lực được đánh giá trong mối quan hệ giữa kết quả và sự hao phí nguồn lực để tạo ra kết quả đó.
4 Hiệu quả kinh doanh phản ánh mặt chất lượng của hoạt động kinh doanh, trình độ lợi dụng các nguồn lực trong sự vận động không ngừng của quá trình sản xuất kinh doanh, không phụ thuộc vào quy mô và tốc độ biến động của từng nhân tố. Hiệu quả kinh doanh càng cao càng phản ánh việc sử dụng tiết kiệm các nguồn lực sản xuất. Vì vậy nâng cao hiệu quả kinh doanh là đòi hỏi khách quan để doanh nghiệp thực hiện mục tiêu bao trùm, lâu dài là tối đa hóa lợi nhuận. Sự cần thiết của việc nâng cao hiệu quả kinh doanh Các nguồn lực sản xuất xã hội là một phạm trù khan hiếm.
Trong khi các nguồn lực xã hội ngày càng giảm thì nhu cầu của con người lại ngày càng đa dạng và tăng không có giới hạn. Quy luật khan hiếm buộc mọi doanh nghiệp phải lựa chọn và trả lời câu hỏi: sản xuất cái gì, sản xuất cho ai và sản xuất như thế nào? Mọi doanh nghiệp trả lời không đúng ba vấn đề trên sẽ sử dụng các nguồn lực sản xuất xã hội để sản xuất sản phẩm không tiêu thụ được trên thị trường, lãng phí nguồn lực sản xuất xã hội và sẽ không có khả năng cũng như cơ hội tồn tại. Mặt khác, kinh doanh trong cơ chế kinh tế thị trường, mở cửa và hội nhập quốc tế, doanh nghiệp phải chấp nhận và đứng vững trong môi trường cạnh tranh. Doanh nghiệp phải luôn tạo ra và duy trì các lợi thế cạnh tranh (chất lượng, giá cả, tốc độ cung ứng, khác biệt hóa).
Để duy trì các lợi thế về giá doanh nghiệp cần sử dụng tiết kiệm nguồn lực sản xuất hơn so với doanh nghiệp khác. Chỉ trên cơ sở sản xuất kinh doanh với hiệu quả cao, doanh nghiệp mới có khả năng đạt được điều này. Hiệu quả kinh doanh là phạm trù phản ánh tính tương đối của việc sử dụng tiết kiệm các nguồn lực sản xuất xã hội nên là mục tiêu bao trùm của doanh nghiệp. Hiệu quả kinh doanh càng cao càng phản ánh việc sử dụng tiết kiệm các nguồn lực sản xuất.
Chính vì vậy, nâng cao hiệu quả kinh doanh là đòi hỏi khách quan để doanh nghiệp thực hiện mục tiêu xuyên suốt và lâu dài là tối đa hóa lợi nhuận. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp a. Nhóm chỉ tiêu phản ánh năng lực hoạt động của tài sản Chỉ tiêu phản ánh năng lực hoạt động của tổng tài sản Hiệu suất sử dụng tổng tài sản đo lường tổng quát về năng lực hoạt động của toàn bộ tài sản trong doanh nghiệp, thể hiện qua mối quan hệ giữa tổng doanh thu và thu nhập khác (bao gồm cả doanh thu thuần, doanh thu hoạt động tài chính và thu nhập khác) với tổng tài sản hiện có của doanh nghiệp. Hiệu suất sử Doanh thu và thu nhập khác trong kỳ = dụng tổng tài sản Tổng tài sản bình quân Doanh nghiệp có tỷ suất này càng cao thường được đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản cho hoạt động kinh doanh càng tốt, đồng nghĩa với doanh nghiệp cần ít tài sản hơn để duy trì mức độ doanh thu doanh nghiệp đã đặt ra.
Hiệu suất sử dụng tài sản không đánh giá trực tiếp khả năng sinh lời hay khả năng thanh khoản nhưng là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến các tỷ số phản ánh tình hình kinh doanh của doanh nghiệp. Chỉ tiêu phản ánh năng lực hoạt động của tài sản ngắn hạn Năng lực hoạt động của tài sản sản ngắn hạn được thể hiện qua các chỉ tiêu: Vòng quay khoản phải thu và kỳ thu tiền trung bình Vòng quay khoản phải thu thể hiện mối quan hệ giữa doanh thu bán hàng với các khoản phải thu của doanh nghiệp, được xác định theo công thức: Vòng quay Doanh thu thuần trong kỳ = khoản phải thu Các khoản phải thu bình quân Trong đó, các khoản bình quân cuối kỳ được xác định bằng các khoản phải thu đầu kỳ cộng với các khoản phải thu cuối kỳ rồi chia cho hai. Vòng quay khoản phải thu đo lường mức độ đầu tư vào các khoản phải thu để duy trì mức doanh số bán hàng cần thiết cho doanh nghiệp, qua đó có thể đánh giá hiệu quả chính sách tín dụng thương mại của doanh nghiệp. 6 Chỉ tiêu vòng quay khoản phải thu cao cho thấy doanh nghiệp đang quản lý các khoản phải thu hiệu quả, vốn đầu tư cho các khoản phải thu ít hơn.
Chỉ tiêu kỳ thu tiền trung bình cho biết khoảng thời gian trung bình từ khi doanh nghiệp xuất hàng đến khi doanh nghiệp thu được tiền về, được xác định như sau: Kỳ thu tiền Các khoản phải thu bình quân × Số ngày trong kỳ phân tích = trung bình Doanh thu thuần trong kỳ Số ngày trong kỳ phân tích = Vòng quay hàng tồn kho Trong đó, số ngày trong kỳ phân tích được xác định thường là 90, 360 ngày nếu kỳ phân tích là 1 quý, 1 năm. So với kỳ trước, doanh nghiệp có vòng quay khoản phải thu giảm, thời gian bán chịu cho khách hàng dài hơn làm cho vốn bị ứ đọng nhiều trong khâu thanh toán, kéo theo nhu cầu vốn tăng trong điều kiện quy mô sản xuất kinh doanh thay đổi. Điều này có thể là do chính sách tín dụng kém hiệu quả hoặc doanh nghiệp đang thực hiện chính sách nới lỏng tín dụng với khách hàng nhằm mở rộng doanh số hoạt động. Bởi vậy, để đánh giá thực sự tình hình quản lý khoản phải thu của doanh nghiệp, cần làm rõ tác động của các nhân tố doanh thu thuần và khoản phải thu bình quân đến sự biến động chỉ tiêu vòng quay khoản phải thu.
Vòng quay hàng tồn kho và số ngày của một vòng quay hàng tồn kho Vòng quay hàng tồn kho phản ánh số lần trung bình hàng tồn kho luân chuyển trong một kỳ, được xác định theo công thức: Vòng quay Giá vốn hàng bán trong kỳ = hàng tồn kho Hàng tồn kho bình quân Tương tự với khoản phải thu bình quân, hàng tồn kho bình quân cũng được xác định theo phương pháp bình quân số học. Chỉ tiêu vòng quay hàng tồn kho chỉ ra số lần hàng tồn kho luân chuyển bình quân trong một kỳ. 7 Thời gian luân chuyển của một vòng quay hàng tồn kho được xác định bằng: Số ngày một vòng Hàng tồn kho bình quân × Số ngày trong kỳ phân tích = hàng tồn kho Giá vốn hàng bán trong kỳ Số ngày trong kỳ phân tích = Vòng quay hàng tồn kho Số ngày của một vòng quay hàng tồn kho là khoảng thời gian từ khi doanh nghiệp bỏ tiền mua nguyên vật liệu đến khi sản xuất xong sản phẩm, kể cả thời gian hàng lưu kho. Chỉ tiêu vòng quay hàng tồn kho và số ngày một vòng quay hàng tồn kho là các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả quản trị hàng tồn kho của doanh nghiệp.
So với kỳ trước, vòng quay hàng tồn kho giảm hay số ngày một vòng quay hàng tồn kho tăng cho thấy hàng tồn kho lưu chuyển chậm, thời gian lưu kho tăng, chi phí lưu kho tăng, vốn ứ đọng nhiều kéo theo tăng nhu cầu vốn của doanh nghiệp (trong điều kiện quy mô sản xuất không đổi). Tuy nhiên, trong một số trường hợp, vòng quay hàng tồn kho giảm do doanh nghiệp tăng dự trữ nhằm đáp ứng các nghĩa vụ hợp đồng, nhu cầu mùa vụ; vòng quay hàng tồn kho tăng do tình trạng cạn kho, thu hẹp quy mô sản xuất. Do vậy, bên cạnh so sánh chỉ tiêu giữa các kỳ, cần xem xét đến các nhân tố ảnh hưởng (giá vốn hàng bán, hàng tồn kho) để đánh giá đúng mức tình hình thực hiện chỉ tiêu này. Chỉ tiêu phản ánh năng lực hoạt động của tài sản dài hạn Năng lực hoạt động của tài sản dài hạn thường được thể hiện qua chỉ tiêu hiệu suất sử dụng tài sản cố định, được xác định bởi công thức: Hiệu suất sử dụng Doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ = tài sản cố định Tài sản cố định bình quân Hiệu suất sử dụng tài sản cố định phản ánh mức độ đầu tư vốn vào tài sản cố định để tạo doanh thu.
Cụ thể, cứ một đồng tài sản cố định đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ thì tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu thuần.