CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN 1. DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN 1. Khái niệm và đặc điểm của doanh nghiệp tư nhân ở nước ta a. Khái niệm về doanh nghiệp tư nhân Có thể khẳng định những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế tư nhân đã tạo ra những hành lang pháp lý rất thuận lợi để DNTN phát triển nhanh chóng, đóng góp tích cực và quan trọng vào quá trình tăng trưởng kinh tế, giải quyết việc làm, xóa đói, giảm nghèo và nâng cao đời sống nhân dân.
Do quá trình thực hiện có nhiều vấn đề thực tiễn đặt ra cần điều chỉnh, bổ sung, Điều 141 Luật doanh nghiệp 2005 (có hiệu lực từ 1/7/2006) định nghĩa: “Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp” Như vậy, quan niệm và phát triển nhận thức về DNTN là một quá trình phù hợp với yêu cầu phát triển của thực tiễn. Quan niệm về DNTN trong luật doanh nghiệp có hiệu lực từ tháng 7/2006 là phù hợp với tình hình hiện nay. Tuy nhiên, đây là một vấn đề phức tạp, luôn biến đổi, trong giới hạn nhất định, quan niệm như vậy là tương đối phù hợp. Những đặc điểm cơ bản của doanh nghiệp tư nhân Thứ nhất, đặc điểm về chủ thể thành lập doanh nghiệp tư nhân.
Chủ thề doanh nghiệp tư nhân chỉ có thể là một cá nhân. Đặc điểm này phân biệt doanh nghiệp tư nhân với các doanh nghiệp khác do (một/nhiều) các nhân hoặc tổ chức thành lập. Muốn thành lập doanh nghiệp tư nhân, cá nhân phải Luan van 9 thỏa mãn các điều kiện mà luật pháp quy định. Mỗi cá nhân chỉ được thành lập một doanh nghiệp tư nhân và không đồng thời là thành viên hợp danh của công ty hợp danh hoặc chủ của một hộ kinh doanh (Khoản 2, Điều 9 Nghị định số 139/2007/NĐ-CP).
Khi Luật doanh nghiệp 2005 có hiệu lực, các nhà đầu tư Việt Nam và nước ngoài đều có quyền bình đẳng trong việc lựa chọn loại hình doanh nghiệp. Tuy nhiên, việc đầu tư thành lập doanh nghiệp tư nhân của nhà đầu tư nước ngoài sẽ còn phải được Chính phủ quy định theo luật đầu tư. Thứ hai, đặc điểm tài sản. Chủ doanh nghiệp tư nhân dùng tài sản thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng hợp pháp của mình để đầu tư thành lập doanh nghiệp, trở thành chủ sở hữu duy nhất của doanh nghiệp.
Ở doanh nghiệp tư nhân, không có sự phân biệt rõ ràng giữa tài sản đầu tư vào kinh doanh và những tài sản khác thuộc quyền sở hữu của chủ doanh nghiệp.Vì vậy, khi thành lập doanh nghiệp, chủ doanh nghiệp không phải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu tài sản cho doanh nghiệp. Trong quá trình hoạt động, chủ doanh nghiệp tư nhân có quyền tăng hoặc giảm vốn của mình đầu tư vào doanh nghiệp. Khi kinh doanh ở những ngành nghề mà pháp luật quy định phải có vốn pháp định thì chủ doanh nghiệp tư nhân phải chịu trách nhiệm về tính trung thực và chính xác của số vốn được xác nhận khi thành lập doanh nghiệp, đồng thời đảm bảo mức vốn thực tế không thấp hơn mức lập doanh nghiệp, đồng thời bảo đảm mức vốn thực tế không thấp hơn mức vốn pháp định trong suốt quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Thứ ba, đặc điểm về giới hạn trách nhiệm.
Chủ doanh nghiệp tư nhân tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp. Ở doanh nghiệp tư nhân, toàn bộ doanh nghiệp và các tài sản khác của chủ doanh nghiệp tạo thành một khối thống nhất thuộc sở hữu của chủ doanh nghiệp. Tất cả khối tài sản này là giới hạn chịu trách nhiệm của chủ doanh Luan van 10 nghiệp về hoạt động của doanh nghiệp, không phân biệt là khối tài sản đó có được đầu tư vào kinh doanh, hoạt động của doanh nghiệp hay không. Vì vậy, doanh nghiệp tư nhân là loại doanh nghiệp chịu trách nhiệm vô hạn.
Trên thực tế, chủ doanh nghiệp tư nhân phải chịu trách nhiệm về hoạt động của doanh nghiệp bằng tất cả tài sản của mình. Vì vậy, trong quan hệ kinh doanh với doanh nghiệp tư nhân, vấn đề quan trọng không phải là tìm hiểu về vốn và tài sản của doanh nghiệp tư nhân đăng ký mà là về tổng tài sản của chủ doanh nghiệp. Thư tư, đặc điểm về tư cách chủ thể. Ở doanh nghiệp tư nhân, không có sự phân biệt giữa doanh nghiệp và chủ doanh nghiệp, không có sự tách bạch giữa sở hữu và quản lý.
Khi thành lập doanh nghiệp, chủ doanh nghiệp tư nhân đặt tên cho doanh nghiệp theo quy định. Với tên gọi này, doanh nghiệp tư nhân là chủ thể có các quan hệ pháp luật. Chủ doanh nghiệp tư nhân là đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, là nguyên đơn, bị đơn hoặc là người có quyền và lợi ích liên quan trước các cơ quan giải quyết tranh chấp liên quan đến Luật doanh nghiệp (Điều 143 Luật doanh nghiệp). Đặc điểm này phân biệt giữa doanh nghiệp tư nhân với các doanh nghiệp có tư cách chủ sở hữu doanh nghiệp tách biệt với tư cách chủ thể của doanh nghiệp khi tham gia quan hệ pháp luật, chẳng hạn như công ty.
Do đó, thông thường chủ doanh nghiệp tư nhân tự mình quản lý, điều hành doanh nghiệp. Tuy nhiên, chủ doanh nghiệp tư nhân cũng có thể thuê người quản lý và điều hành doanh nghiệp. Trong trường hợp này, quyền và nghĩa vụ của các bên phải được thể hiện rõ trong hợp đồng thuê. Mặc dù vậy, trong mọi trường hợp, chủ doanh nghiệp tư nhân vẫn phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về hoạt động của chủ doanh nghiệp trước pháp luật (Điều 142/2 Luật doanh nghiệp).
Người được chủ doanh nghiệp thuê phải chịu trách nhiệm trước chủ doanh nghiệp về việc quản lý, điều hành doanh nghiệp theo quy định trong hợp đồng và pháp luật có liên quan. Luan van 11 Những đặc điểm trên chứng tỏ DNTN có nhiều ưu thế. Chính vì vậy, Nhà nước ta chủ trương khuyến khích các DNTN phát huy ở những ngành nghề mà pháp luật không cấm là hoàn toàn đúng đắn, không những phù hợp với nhu cầu thực tiễn của nền kinh tế thị trường hiện nay mà còn đáp ứng được yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Sự cần thiết và tính tất yếu của DNTN trong nền kinh tế Việt Nam + Sự cần thiết của doanh nghiệp tư nhân trong nền kinh tế.
Từ nền kinh tế hàng hóa đơn giản đến nền kinh tế thị trường, trình độ cao của kinh tế hàng hóa, cơ cấu về hình thái và trình độ sản xuất từ cá thể, sản xuất vừa và sản xuất lớn luôn đan xen tồn tại và phát triển. Trong đó, Doanh nghiệp tư nhân luôn giữ vị thế quan trọng trong suốt quá trình lịch sử của nền sản xuất hàng hóa, có nghĩa là cho đến nay trong điều kiện phát triển của nền kinh tế thị trường, DNTN vẫn còn chỗ đứng và đó như một tất yếu khách quan. + Tính tất yếu của DNTN trong nền kinh tế Việt Nam Sở hữu tư nhân và kinh tế tư nhân phát triển có tính quy luật, gắn với sự vận động của nền kinh tế hàng hóa. Thực tế, sau nhiều năm chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường (kinh tế hàng hóa nhiều thành phần), nền kinh tế Việt nam đã có những bước phát triển nhanh và bền vững.
Đứng trước thực trạng đó và được sự khuyến khích của Đảng và Nhà nước, kinh tế tư nhân đã có những bước chuyển biến mạnh mẽ. Trong thành phần kinh tế tư nhân, hình thức DNTN có vị trí quan trọng đặc biệt, và vị trí đó không chỉ riêng trong thành phần kinh tế tư nhân mà trong toàn bộ trong nền kinh tế quốc dân. Vai trò của doanh nghiệp tư nhân trong nền kinh tế nước ta + Doanh nghiệp tư nhân tạo thêm việc làm cho người lao động Tốc độ tăng trưởng số lao động sử dụng của doanh nghiệp tư nhân hàng năm là 22,67%. Có khỏang 1,2 triệu người tham gia thị trường lao động mỗi Luan van 12 năm.
Số lao động khu vực nông thôn có nhiều cần chuyển sang làm việc các ngành công nghiệp, dịch vụ tăng đáng kể. Sự ra đời và phát triển nhanh chóng của DNTN đã thu hút lực lượng lao động lớn của xã hội. + Các doanh nghiệp tư nhân đóng góp vào GDP của cả nước Từ khi Luật doanh nghiệp 2005 ra đời, với số lượng DNTN ngày càng đông đảo đã tạo ra một khối lượng hàng hóa, dịch vụ phong phú, đóng góp đáng kể cho GDP của cả nước. Sự đóng góp của khu vực kinh tế tư nhân trong đó có DNTN ngày càng tăng.
Hoạt động sản xuất kinh doanh của các DNTN trở nên có hiệu quả. + Phát triển DNTN là điều kiện để thu hút nguồn vốn đầu tư. Cùng với đà phát triển của nền kinh tế, môi trường đầu tư kinh doanh ngày càng thuận lợi, số lượng DNTN gia tăng, quy mô của DNTN được mở rộng thì số vốn được huy động trong các tầng lớp nhân dân càng lớn. Những nguồn vốn bằng tiền, những tài sản cố định như đất đai, nhà cửa, phương tiện, công cụ sản xuất trong dân cư cũng được huy động ngày càng nhiều cho mục đích sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
+ Các DNTN góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế Các DNTN góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tạo ra sự liên kết kinh tế giữa các vùng, làm cho nền kinh tế trở nên năng động, hiệu quả. Trong cơ cấu kinh tế, tỷ trọng ngành nông nghiệp giảm xuống, tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ tăng nhanh. Sự phát triển đa dạng và phong phú của các DNTN trong các ngành kinh tế tạo ra khả năng liên kết với nhau, từ đó tạo ra sự liên kết giữa các vùng kinh tế, các ngành kinh tế. + Các DNTN góp phần giữ và phát triển các ngành nghề truyền thống DNTN được hình thành và phát triển trên cơ sở kinh tế hộ cá thể.
Các hộ sản xuất kinh doanh cá thể thường gắn liền với các hoạt động sản xuất kinh Luan van 13 doanh ngành nghề truyền thống. Nhờ đó, DNTN không chỉ giữ gìn các ngành nghề truyền thống mà còn có vai trò tích cực trong việc mở rộng những ngành nghề theo hướng sản xuất hàng hóa lớn. Tổ chức quản lý hoạt động của doanh nghiệp tư nhân Trong khuôn khổ của những quy định của pháp luật, chủ doanh nghiệp tư nhân có toàn quyền quyết định đối với tất cả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.