ĐẶT VẤN ĐỀ Việt Nam đã gia nhập vào Tổ chức thương mại thế giới (World Trade Organization- WTO) đồng thời chuẩn bị gia nhập Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (Trans-Pacific Strategic - TPP), điều này đã mở ra cho các doanh nghiệp Việt Nam nhiều cơ hội về hoạt động kinh doanh nhưng đồng thời nó cũng đẩy các doanh nghiệp Việt Nam vào những thách thức, cạnh tranh rất khốc liệt. Các doanh nghiệp tại Việt Nam hiện nay để có thể tồn tại và đứng vững trên thị trường được thì họ cần phải có được những thông tin liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của mình một cách chính xác, kịp thời để có thể ra những quyết định đúng đắn và đúng thời cơ. Công cụ hữu hiệu nhất để cung cấp các thông tin đó chính là hệ thống Kế toán quản trị (KTQT). Tại Việt Nam, các Doanh nghiệp vừa và nhỏ(DNVVN) thường chiếm đa số và giữ một vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế.
Theo báo cáo của Hiệp hội doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam thì hiện nay số lượng DNVVV chiếm đến 97,5% trong tổng số các doanh nghiệp đang hoạt động trên thực tế. Khối doanh nghiệp này tạo ra đến 40% tổng sản phẩm quốc nội, đóng góp khoảng 30% cho ngân sách nhà nước và thu hút được 51% lực lượng lao động của cả nước, giữ vai trò nòng cốt trong việc giải quyết vấn đề an sinh xã hội. Trong thời gian gần đây, Chính phủ đã có một số các giải pháp nhằm hỗ trợ cho các DNVVN như trong Nghị định 56/2009/NĐ-CPđã ban hành vào ngày 30/06/2009[7]. Theo đó, khối doanh nghiệp này được sự hỗ trợ từ tài chính, thông tin, đào tạo nhân lực đến chính sách hỗ trợ để sử dụng khoa học công nghệ… Sau đó, c 2 tháng 5/2010, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 22/NQ-CP triển khai thực hiện Nghị định số 56/2009/NĐ-CP.
Những hỗ trợ này đã tạo động lực mới cho sự phát triển của cộng đồng DNVVN [8]. Tuy nhiên, khối DNVVN ở nước ta hiện nay vẫn chưa thực sự tạo được thế mạnh, khối này cũng chỉ mới phát triển trong những lãnh vực có tỷ suất lợi nhuận thấp và cũng đã có rất nhiều DNVVN buộc phải giải thể do gặp quá nhiều khó khăn, thách thức trong một môi trường cạnh tranh khốc liệt với một bối cảnh kinh tế diễn biến phức tạp, khó lường. Để có thể tồn tại và phát triển trong hoàn cảnh như thế, buộc các DNVVN phải có hệ thống KTQT thật tốt để giúp cho chủ doanh nghiệp có thể nắm bắt được các thông tin về hoạt động trong nội bộ đơn vị một cách nhanh chóng, chính xác để có thể đưa ra những quyết định đúng đắn, kịp thời. KTQT chính là một trong các công cụ quan trọng giúp cho các nhà quản lý thực hiện được các nghiệp vụ như lập kế hoạch, tổ chức, kiểm tra và ra quyết định.
Với một vai trò quan trọng như thế nhưng KTQT lại rất ít được vận dụng tại các DNVVN ở Việt Nam hiện nay là do một số các lý do liên quan đến sự hiểu biết của nhà quản lý về KTQT, trình độ của nhân viên kế toán, việc ứng dụng công nghệ thông tin vào việc quản lý doanh nghiệp, chi phí để xây dựng một hệ thống KTQT…Theo như nghiên cứu thì yếu tố chi phí chính là yếu tố có tác động rất lớn đến việc vận dụng KTQT tại các DNVVN tại Việt Nam hiện nay vì các doanh nghiệp luôn phải cân nhắc sao cho chi phí để tổ chức một hệ thống KTQT phải thấp hơn giá trị lợi nhuận còn lại của doanh nghiệp. Trong thực tế hiện nay, để thiết lập một hệ thống KTQT hoàn chỉnh rất tốn kém vì doanh nghiệp cần phải có thêm nhân viên, phòng ban chuyên thực hiện công việc KTQT kèm theo một phần mềm dành riêng cho KTQT. Những yêu cầu đó xuất phát từ đặc thù khác nhau giữa KTTC và KTQT trong việc thu thập và xử lý thông tin, đặc biệt là thông tin về chi phí. Vấn đề ở đây là làm sao để có thể xây dựng được một hệ thống tin kế toán có thể sử dụng được cho cả KTTC và KTQT nhằm tiết kiệm công việc thu thập thông tin thay vì phải có hai hệ c 3 thống thông tin phục vụ cho hai bộ phận kế toán là KTTC và KTQT.2 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Hiện nay, do báo cáo tài chính là loại báo cáo mang tính pháp lý, bắt buộc nên bất ký doanh nghiệp nào dù lớn hay nhỏ cũng đều phải có một hệ thống KTTC để làm nhiệm vụ lập ra các báo cáo tài chính để hàng tháng, hàng quý hay hàng năm nộp cho các cơ quan chức năng như Thuế, phòng Thống kê… Trong khi đó, các báo cáo của KTQT thì chỉ xuất phát từ yêu cầu của người quản lý doanh nghiệp chứ không mang tính pháp lý, bắt buộc nên rất nhiều DNVVN đã bỏ qua các báo cáo này.Điều này một phần cũng xuất phát từ sự thiếu hiểu biết về KTQT của các người quản lý doanh nghiệp cộng với việc tốn kém khi phải thiết lập một hệ thống KTQT trong doanh nghiệp.Tuy nhiên việc bỏ qua KTQT lại chính là một sai lầm lớn của các chủ doanh nghiệp và rất nhiều người đã phải trả giá cho sai lầm này.
Theo kết quả điều tra doanh nghiệp năm 2014 do Tổng cục thống kê thực hiện, cả nước đã có 67.823 doanh nghiệp phải giải thể hoặc tạm ngừng hoạt động có thời hạn vì gặp nhiều khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Sở dĩ xảy ra điều này là vì đa phần các doanh nghiệp ở Việt Nam thường không hoạt động một cách có bài bản, không vận dụng được những công cụ hỗ trợ như KTQT nên đã không dự tính được hết những khó khăn có thể xảy ra do đó đã không thể có những đối sách thích hợp, kịp thời. Theo dự báo những năm tiếp sau, nền kinh tế thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng sẽ còn tiếp tục gặp nhiều khó khăn, thách thức trong bối cảnh nền kinh tế thế giới diễn biến ngày càng phức tạp, khó lường. Vì thế, việc vận dụng các công cụ, các giải pháp để quản lý, điều hành doanh nghiệp là một trong những yêu cầu rất cấp thiết và KTQT với những vai trò của nó sẽ trở thành công cụ không thể thiếu được đối với các nhà quản lý.
Các DNVVN tại Việt Nam hiện nay đa số đều đã có sử dụng phần mềm kế toán để phục vụ cho công tác KTTC. Vì KTTC gần như là thực hiện theo một khuôn mẫu thống nhất theo luật kế toán, luật thuế nên việc thiết lập một phần mềm phục vụ cho KTTC tương đối không phức tạp và một phần mềm có thể được sử dụng cho rất nhiều c 4 doanh nghiệp, trong khi đó KTQT lại được thực hiện tùy theo yêu cầu quản lý khác nhau của từng doanh nghiệp nên việc thiết kế một phần mềm phục vụ cho KTQT là gần như phải thiết kế cho riêng từng doanh nghiệp. Chính vì đặc thù đó mà chi phí cho một phần mềm KTQT rất cao và đòi hỏi phải có một bộ phận nhân viên kế toán riêng để thu thập, xử lý các dữ liệu thông tin kế toán cho KTQT thông qua phần mềm KTQT đó. Việc tổ chức KTQT đã vấp phải không ít các khó khăn về sự hiểu biết về KTQT của cả ban giám đốc lẫn nhân viên kế toán, khó khăn do chi phí cho việc tổ chức quá lớn.
cho nên đến nay thì KTQT hầu như chưa được vận dụng hoặc là vận dụng rất ít trong các DNVVN. Trong khi đó, các doanh nghiệp đã bỏ qua một phần mềm quản lý cơ sở dữ liệu rất tốt, có thể đáp ứng được yêu cầu của KTQT mà lại không mấy tốn kém, gần như bất kỳ máy vi tính nào nào cũng có thể dễ dàng cài đặt và khá quen thuộc với nhiều người đó là phần mềm Excel. Bên cạnh đó, tất cả các phần mềm phục vụ cho KTTC đều có thể xuất số liệu ra Excel để xử lý một số nghiệp vụ ngoài khả năng của nó rồi sau đó lại nhập trở lại vào phần mềm để tiếp tục phần việc còn lại. Vấn đề là làm thế nào để có thể thiết lập một hệ thống cơ sở dữ liệu đầu vào như thế nào để doanh nghiệp có thể sử dụng chung cho cả KTTC và KTQT để tiết kiệm được thời gian, công sức, con người trong việc thu thập, xử lý các thông tin kế toán.
Trong nhiều năm gần đây đã có nhiều nghiên cứu trước đây ở trong và ngoài nước có đề cập đến vấn đề KTQT, cụ thể như đề tài “Factors influencing the alignment of accounting information systems in small and medium sized Malaysian manufacturing firms” của Noor Azizi Ismail và Malcolm- King[14]. Đề tài có đề cập tới các nhân tố ảnh hưởng đến KTQT, tuy nhiên lại không nói tới nhân tố chi phí. Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thành Kim Dung năm 2013 với đề tài “Tổ chức công tác kế toán quản trị tại các doanh nghiệp vận tải thủy nội địa Logistics trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh” [1]. Luận văn đã đưa ra giải pháp để hoàn thiện công tác KTQT này dựa trên việc nghiên cứu tình hình tổ chức KTQT tại các doanh nghiệp này.
Bài báo “Mô hình tổ chức kế toán quản trị của một số nước trên thế giới – Bài học kinh nghiệm đối với các doanh nghiệp Việt Nam”của tác giả Lê Thị Hương được c 5 đăng trên Tạp chí nghiên cứu tài chính kế toán số 7 năm 1996. Tác giả cung cấp hai cách tổ chức mô hình KTQT là mô hình kết hợp và mô hình tách rời dựa vào một số mô hình tổ chức KTQT của một số nước phát triển trên thế giới và rút ra các bài học kinh nghiệm đối với các doanh nghiệp Việt Nam về KTQT[3]. Nhìn chung, các nghiên cứu trên chỉ tập trung nghiên cứu cách tổ chức KTQT mà không chú trọng đến việc làm sao để có thể xây dựng một mô hình kết hợp được KTTC và KTQT trong cùng một doanh nghiệp nhằm giúp các chủ doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận được KTQT, vận dụng được KTQT vào công tác quản lý một cách hiệu quả, ít tốn kém.