Chương 1. Tổng quan nghiên cứu đề tài hiệu quả cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam chi nhánh Tây Hà Nội Chương 2. Một số vấn đề lý luận cơ bản về hiệu quả cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ của ngân hàng thương mại Chương 3. Phương pháp nghiên cứu và kết quả phân tích thực trạng hiệu quả cho vay DNVVN của Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam chi nhánh Tây Hà Nội Chương 4 Các kết luận và đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay DNVVN tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam chi nhánh Tây Hà Nội SVTH: Nguyễn Thị Miền Lớp: K43H1 Luan van Luận văn tốt nghiệp 4 GVHD: ThS.
Phạm Tuấn Anh CHƯƠNG 2. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HIỆU QUẢ CHO VAY DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2. Các khái niệm, định nghĩa có liên quan 2. Doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa Theo Ngân hàng thế giới(WB) và Công ty tài chính quốc tế (IFC) thì các doanh nghiệp được phân chia như sau: Doanh nghiệp siêu nhỏ (10 lao động, tổng tài sản trị giá không quá 100.000USD và tổng doanh thu hàng năm không quá 100.
Doanh nghiệp nhỏ (không quá 50 lao động, tổng số tài sản trị giá không quá 3 triệu USD và tổng doanh thu hàng năm không quá 3 triệu USD). Doanh nghiệp vừa (không quá 300 lao động, tổng tài sản trị giá không quá 15 triệu USD và tổng doanh thu hàng năm không quá 15 triệu USD). Theo Điều 3, Nghị định số 56/2009/NÐ-CP của Chính phủ ngày 30 tháng 06 năm 2009 về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa: Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên). Cụ thể doanh nghiệp có số lao động dưới 10 người trong mọi khu vực được coi là doanh nghiệp siêu nhỏ.
Doanh nghiệp nhỏ là các hoạt động trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp và thủy sản; lĩnh vực công nghiệp và xây dựng có tổng nguồn vốn từ 20 tỷ đồng trở xuống hoặc số lao động từ trên 10 người đến 200 người; còn đối với doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ có tổng nguồn vốn từ 10 tỷ đồng trở xuống và có số lao động từ trên 10 người đến 50 người. Doanh nghiệp vừa là các hoạt động trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp và thủy sản; lĩnh vực công nghiệp và xây dựng có tổng nguồn vốn từ trên 20 tỷ đồng đến 100 tỷ đồng hoặc số lao động từ trên 200 người đến 300 người; còn đối với doanh SVTH: Nguyễn Thị Miền Lớp: K43H1 Luan van Luận văn tốt nghiệp 5 GVHD: ThS. Phạm Tuấn Anh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ có tổng nguồn vốn từ trên 10 tỷ đồng đến 50 tỷ đồng và có số lao động từ trên 50 người đến 100 người. Hiệu quả cho vay DNVVN và rủi ro tín dụng DNVVN của NHTM * Hiệu quả cho vay DNVVN: Một cách tổng quát, hiệu quả cho vay DNVVN của NHTM là tổng hợp các lợi ích kinh tế, kỹ thuật, xã hội, môi trường, an ninh quốc phòng do hoạt động cho vay đối với DNVVN tạo ra và được xác định trong mối quan hệ so sánh giữa các kết quả do việc cho vay đối với DNVVN tạo ra với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó.
* Rủi ro tín dụng DNVVN của NHTM: Rủi ro tín dụng DNVVN của ngân hàng thương mại là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động cho vay đối với khách hàng là các DNVVN của ngân hàng thương mại do khách hàng vay (hoặc tổ chức bảo lãnh) không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho khoản vay (về gốc, lãi và các chi phí khác) theo cam kết * Nợ quá hạn của DNVVN Nợ quá hạn của các DNVVN là các khoản nợ của các DNVVN vay NHTM mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và/hoặc lãi đã quá hạn * Nợ xấu của DNVVN Nợ xấu (NPL) của các DNVVN là các khoản nợ của các DNVVN vay NHTM thuộc các nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn), nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) và nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) theo quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của thông đốc NHNN về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của TCTD 2. Một số lý thuyết của vấn đề nghiên cứu 2. Một số quan điểm về hiệu quả cho vay DNVVN Quan điểm thứ nhất SVTH: Nguyễn Thị Miền Lớp: K43H1 Luan van Luận văn tốt nghiệp 6 GVHD: ThS. Phạm Tuấn Anh Xuất phát từ lợi ích của các Ngân hàng thương mại, hiệu quả cho vay được đảm bảo bởi hai yếu tố là mức độ an toàn và khả năng sinh lời của ngân hàng do hoạt động cho vay đối với DNVVN mang lại.
Khi quyết định tài trợ cho một DNVVN, các ngân hàng phải đứng trước hai sự lựa chọn là lợi nhuận và rủi ro. Thông thường, mức rủi ro càng cao thì khả năng sinh lời càng lớn. Vì thế trong một quyết định cho vay, ngân hàng có thể theo đuổi mục tiêu lợi nhuận cao hay thấp, song phải xác định được mối liên hệ giữa rủi ro và sinh lời để đảm bảo hoạt động cho vay đem lại lợi nhuận cao nhất với độ rủi ro thấp nhất. Các chỉ tiêu đo lường hiệu quả cho vay của NHTM theo quan điểm này chủ yếu bao gồm các chỉ tiêu định lượng như doanh số cho vay, doanh số thu nợ, tổng dư nợ, nợ quá hạn, nợ xấu, vòng quay vốn tín dụng, hiệu suất sử dụng vốn, các chỉ tiêu về lợi nhuận, chi phí,.
Quan điểm thứ hai Xuất phát từ lợi ích tổng quát của cả NHTM, khách hàng và của toàn xã hội, hiệu quả tín dụng DNVVN của NHTM là một trong những biểu hiện của hiệu quả kinh tế trong lĩnh vực tài chính tín dụng dành cho khối các DNVVN, nó phản ánh khả năng cung ứng tín dụng phù hợp với yêu cầu phát triển của các mục tiêu kinh tế-xã hội và nhu cầu của các DNVVN, đảm bảo các nguyên tắc hoạt động tín dụng, mang lại lợi nhuận cho NHTM, phục vụ các mục tiêu tăng trưởng kinh tế, trên cơ sở đó đảm bảo sự tồn tại và phát triển bền vững của NHTM. Vì vậy, hiệu quả tín dụng là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, phản ánh khả năng thích nghi của tín dụng NHTM với sự thay đổi của các nhân tố chủ quan( khả năng quản lý, trình độ cán bộ tín dụng của NHTM…), các nhân tố khách quan (mức độ an toàn vốn tín dụng, các biến số môi trường kinh doanh, sự phát triển kinh tế-xã hội…) nghĩa là hiệu quả tín dụng DNVVN được nghiên cứu trong mối quan hệ biện chứng giữa NHTM – DNVVN – Nền kinh tế. Nhóm chỉ tiêu phản ánh hiệu quả cho vay của NHTM theo quan điểm này gồm nhóm chỉ tiêu định lượng và nhóm chỉ tiêu định tính - Nhóm chỉ tiêu định tính được thể hiện qua nội dung các quy chế, chế độ, thể SVTH: Nguyễn Thị Miền Lớp: K43H1 Luan van Luận văn tốt nghiệp 7 GVHD: ThS. Phạm Tuấn Anh lệ tín dụng, tuân thủ các nguyên tắc căn bản và chung nhất: Mục tiêu sử dụng vốn của DNVVN phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế, xã hội, của Đảng, Nhà nước và của địa phương, theo cơ chế thị trường, Đảm bảo các chính sách xã hội của Nhà nước trong cho vay Đảm bảo các nguyên tắc cho vay, thủ tục cho vay đơn giản nhưng chặt chẽ về mặt pháp lý Dịch vụ cho vay có chất lượng cao, đặc biệt là thái độ phục vụ khách hàng, góp phần tạo lập và nâng cao uy tín của ngân hàng đối với khách hàng Phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng để làm tốt công tác cho vay Hướng tới hỗ trợ các DNVVN có chất lượng quản lý tốt, có kinh nghiệm sản xuất, kinh doanh và có khả năng cạnh tranh cao, sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng, hoàn trả nợ gốc và lãi vay đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng - Nhóm chỉ tiêu định lượng: doanh số cho vay, doanh số thu nợ, tổng dư nợ, nợ quá hạn, nợ xấu, vòng quay vốn tín dụng, hiệu suất sử dụng vốn, chỉ tiêu về lợi nhuận Quan điểm thứ ba Xuất phát từ tiếp cận khai thác nguồn nhân lực trong phát triển hiệu quả tín dụng DNVVN, hiệu quả tín dụng DNVVN không đơn thuần là các tiếp cận kinh tế tài chính trong nội bộ NHTM về hoạt động cho vay đối với DNVVN, mà trong bối cảnh kinh doanh hiện đại, những NHTM thành công không chỉ nhờ vào khai thác sự đầu tư vào vốn, mà còn nhờ vào khai thác sự đầu tư vào con người.
Nói cách khác, quan điểm này nhấn mạnh việc sử dụng thước đo hiệu quả tín dụng DNVVN của NHTM theo đầu nhân viên tín dụng. Quan điểm này đề cao việc tìm kiếm kết quả tín dụng DNVVN từ khai thác tài năng, sức sáng tạo, uy tín, mối quan hệ và sự tận tụy của các nhân viên tín dụng trong việc tìm kiếm các khách hàng tiềm năng là DNVVN có chất lượng, có ý tưởng kinh doanh, kế hoạch kinh doanh có hiệu quả và từ đó tạo ra thu nhập cho NHTM một cách bền vững. SVTH: Nguyễn Thị Miền Lớp: K43H1 Luan van Luận văn tốt nghiệp 8 GVHD: ThS. Phạm Tuấn Anh Sẽ là lý tưởng nếu luận văn tiếp cận nghiên cứu hiệu quả tín dụng DNVVN của NHTM theo quan điểm thứ hai và thứ ba, bởi lẽ trong thực tế, quan hệ tín dụng không chỉ có vậy mà còn phải đặt trong mối quan hệ với các mặt khác của xã hội.
Một khoản cho vay được coi là có hiệu quả phải đáp ứng được rất nhiều các tiêu chí của các chủ thể tham gia hoạt động tín dụng, trong tiến trình đề cao nguồn nhân lực và khả năng sáng tạo.