Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Lâm sản ngoài gỗ (LSNG) giữ vai trò then chốt trong cấu trúc hệ sinh thái rừng nhiệt đới, đồng thời là nguồn cung ứng nguyên liệu thiết yếu cho sản xuất công nghiệp, dược phẩm, hàng gia dụng và bảo đảm sinh kế cho các cộng đồng dân cư vùng cao. Vườn Quốc gia (VQG) Phia Oắc – Phia Đén (huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng) là khu vực có độ đa dạng sinh học cao, đóng vai trò quan trọng trong bảo vệ đầu nguồn, phòng chống xói mòn và lưu trữ nguồn gen động, thực vật đặc hữu. Tuy nhiên, trong thời gian dài từ năm 1986 đến nay, các áp lực từ khai thác khoáng sản, chặt phá rừng và thói quen khai thác tự do đã làm cho cấu trúc rừng bị chia cắt, trữ lượng suy giảm, nhiều loài động thực vật quý hiếm đứng trước nguy cơ đe dọa nghiêm trọng.
Nhằm thiết lập cơ sở khoa học cho việc quản lý và phát triển bền vững tài nguyên sinh vật bản địa, khóa luận tập trung giải quyết các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu sau:
- Mục tiêu chung: Đánh giá thực trạng khai thác, sử dụng các loài lâm sản ngoài gỗ dùng làm dược liệu và thực phẩm tại VQG Phia Oắc – Phia Đén, từ đó đề xuất các nhóm giải pháp giúp chính quyền và người dân địa phương định hướng bảo tồn, phát triển tài nguyên một cách bền vững.
- Mục tiêu cụ thể:
- Đánh giá hiện trạng khai thác, chế biến và sử dụng các loài LSNG làm thực phẩm và dược liệu tại 5 xã/thị trấn thuộc vùng nghiên cứu.
- Xác định các nguyên nhân chủ quan và khách quan dẫn tới sự suy giảm nguồn tài nguyên LSNG tại địa phương.
- Đề xuất các giải pháp kỹ thuật, quản lý và sinh kế khả thi nhằm bảo tồn, khai thác hợp lý các loài có giá trị ưu tiên.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Thành phần các loài thực vật rừng cho lâm sản ngoài gỗ hiện có tại VQG Phia Oắc – Phia Đén được sử dụng làm dược liệu và thực phẩm.
- Phạm vi không gian: Thực hiện tại địa bàn 5 xã và thị trấn thuộc VQG Phia Oắc – Phia Đén, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng (gồm các xã: Thành Công, Phan Thanh, Quang Thành, Hưng Đạo và thị trấn Tĩnh Túc).
- Phạm vi thời gian: Quá trình thu thập dữ liệu, điều tra thực địa và hoàn thiện công trình được triển khai từ tháng 04/2019 đến tháng 06/2020.
- Ý nghĩa: Đề tài giúp rèn luyện kỹ năng thực địa, phương pháp nghiên cứu khoa học gắn với sản xuất thực tiễn; đồng thời cung cấp luận cứ cho các chương trình phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo tồn đa dạng sinh học tại địa phương.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng
Khóa luận hệ thống hóa cơ sở khoa học về LSNG qua các giai đoạn quản lý và nghiên cứu:
- Khái niệm LSNG: Trích dẫn định nghĩa của FAO (1991, 1995, 1999), Wichens (1991), Lê Mộng Chân & Vũ Dũng (1992), Trần Ngọc Hải (2000), Vũ Tiến Hinh & Phạm Văn Điển (2003) và Danh mục theo Nghị định 160-HĐBT (ngày 10/12/1984 của Hội đồng Bộ trưởng). Khóa luận xác định LSNG là toàn bộ các sản phẩm có nguồn gốc sinh học (thực vật, động vật) có thể tái tạo được lấy từ hệ sinh thái rừng tự nhiên hoặc rừng trồng, loại trừ gỗ lớn ở mọi hình thái.
- Hệ thống phân loại: Phân loại theo hệ thống sinh giới (Giới/Ngành/Lớp/Bộ/Họ/Chi/Loài); phân loại theo nhóm giá trị sử dụng (thực phẩm, dược liệu, sợi, tinh dầu/nhựa, thủ công mỹ nghệ...); và phân loại 6 nhóm theo chuẩn của FAO và Dự án LSNG Việt Nam (2001, 2002).
Phương pháp nghiên cứu thực tế
Tác giả kết hợp đồng bộ các phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng từ thu thập tài liệu đến điều tra thực địa:
| Phương pháp |
Quy trình và công cụ triển khai |
Mục đích thu thập |
| Thu thập số liệu thứ cấp |
Kế thừa số liệu khí tượng thủy văn huyện Nguyên Bình, số liệu hiện trạng rừng 2019 của Chi cục Kiểm lâm tỉnh Cao Bằng, báo cáo kinh tế - xã hội các xã. |
Đánh giá tổng quan điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và thảm thực vật khu vực nghiên cứu. |
| Phỏng vấn xã hội học (PRA) |
Lấy mẫu phân tầng ngẫu nhiên $n = 100$ hộ (20 hộ/xã $\times$ 5 xã/thị trấn); phỏng vấn sâu cán bộ kiểm lâm VQG, chính quyền địa phương và người cung cấp tin (NCCT). |
Thu thập danh lục loài, bộ phận sử dụng, mùa vụ, tập quán khai thác, khối lượng và hình thức tiêu thụ. |
| Điều tra theo tuyến và ô tiêu chuẩn (OTC) |
Thiết lập các tuyến điều tra cắt qua các đai độ cao (từ 700m đến 1.931m). Cứ mỗi 100m chênh cao lập 1 OTC kích thước $10\text{m} \times 10\text{m}$ ($100\text{m}^2$). |
Xác định cấu trúc thành phần loài, mật độ, tần số xuất hiện, điều kiện sống và khả năng tái sinh tự nhiên. |
| Đánh giá cho điểm |
Áp dụng thang điểm của Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật (mức độ sử dụng 0-2; mức độ thường gặp 0-1; phân bố 0-2; mức độ tác động 0-2) và thang điểm 10 theo PRA. |
Lựa chọn và xếp hạng các loài LSNG ưu tiên cho công tác bảo tồn và gây trồng thương mại. |
| Phương pháp nội nghiệp & chuyên gia |
Tra cứu, chỉnh lý tên khoa học theo Danh lục các loài thực vật Việt Nam; xử lý số liệu bằng phần mềm Excel; tham vấn ý kiến chuyên gia lâm sản ngoài gỗ. |
Chuẩn hóa danh lục thực vật, phân tích logic các mối liên hệ và hoàn thiện các giải pháp đề xuất. |
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Chương này tổng kết bức tranh nghiên cứu LSNG trên thế giới (Liên Xô, Trung Quốc, Thái Lan, Lào, Ghana...) và Việt Nam qua các giai đoạn. Các công trình của Đỗ Tất Lợi (1975), Đoàn Thị Nhu (1982), Nguyễn Tiến Bân (1994), Lê Trần Đức (1997), Viện Dược liệu (2002, 2004) khẳng định Việt Nam có trên 3.500 loài thực vật làm thuốc và hơn 113 loài rau rừng ăn được.
Về điều kiện khu vực nghiên cứu, VQG Phia Oắc – Phia Đén nằm trên địa giới 5 xã/thị trấn thuộc huyện Nguyên Bình với tọa độ $22^\circ 31' 44'' - 22^\circ 39' 41''$ vĩ độ Bắc và $105^\circ 49' 53'' - 105^\circ 56' 24''$ kinh độ Đông. Địa hình chia cắt mạnh, trong đó đai núi trung bình ($>700\text{m}$) chiếm 90% diện tích tự nhiên với đỉnh cao nhất là Phia Oắc ($1.931\text{m}$). Tổng diện tích đất tự nhiên khu vực là 29.290,3 ha; diện tích rừng đặc dụng là 10.593,4 ha (rừng tự nhiên 8.222,66 ha; rừng trồng Thông 730,61 ha; đất chưa có rừng 1.640,13 ha). Hệ thực vật ghi nhận 1.108 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 861 chi, 199 họ thuộc 6 ngành. Toàn vùng có 1.850 hộ với 8.289 nhân khẩu thuộc 5 dân tộc (dân tộc Dao chiếm 47,2%, Nùng 20,3%, Kinh 17,8%, Tày 13,8%, H'Mông 0,9%).
CƠ CẤU DÂN TỘC KHU VỰC VQG PHIA OẮC - PHIA ĐÉN
Dao : 47,2% (3.912 người)
Nùng : 20,3% (1.682 người)
Kinh : 17,8% (1.475 người)
Tày : 13,8% (1.143 người)
H'Mông : 0,9% ( 77 người)
Chương 2: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Trình bày chi tiết quy trình nghiên cứu thực địa từ tháng 04/2019 đến tháng 06/2020. Tác giả đã thiết lập mạng lưới tuyến điều tra và lập các ô tiêu chuẩn cụ thể theo địa hình từng xã:
- Thị trấn Tĩnh Túc: 7 tuyến điều tra (độ cao từ 742m đến 1.931m), lập 12 ô tiêu chuẩn.
- Xã Hưng Đạo: 6 tuyến điều tra (độ cao từ 700m đến 1.380m), lập 14 ô tiêu chuẩn.
- Xã Quang Thành: 6 tuyến điều tra (độ cao từ 810m đến 1.345m), lập 6 ô tiêu chuẩn.
- Xã Phan Thanh: 6 tuyến điều tra (độ cao từ 753m đến 1.810m), lập 11 ô tiêu chuẩn.
- Xã Thành Công: 7 tuyến điều tra (độ cao từ 753m đến 1.931m), lập 13 ô tiêu chuẩn.
Tại mỗi OTC $100\text{m}^2$, tác giả tiến hành đo đếm mật độ, tần số xuất hiện, thảm tươi và khả năng tái sinh của các loài LSNG mục tiêu; đồng thời kết hợp phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc 100 hộ dân để thu thập thông tin bản địa.
Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Kết quả điều tra xác định được 128 loài LSNG thuộc hai nhóm công dụng chính: nhóm làm dược liệu gồm 80 loài (chiếm 62,5%) và nhóm làm thực phẩm gồm 48 loài (chiếm 37,5%).
- Tập quán khai thác theo bộ phận:
- Nhóm cây dược liệu (80 loài): Khai thác cả cây, thân và dây (51 loài); khai thác rễ và củ (14 loài); khai thác lá (9 loài); khai thác quả và hạt (4 loài); khai thác vỏ thân, vỏ rễ (2 loài).
- Nhóm cây thực phẩm (48 loài): Khai thác cả cây, thân và lá non (35 loài); khai thác quả (11 loài); khai thác củ (2 loài).
- Nguồn gốc khai thác của 100 hộ phỏng vấn: Hoạt động thu hái dựa chủ yếu vào rừng tự nhiên (100% số hộ khảo sát đều có thu hái từ tự nhiên với 83 hộ có bán ra thị trường; trong khi thu hái tại vườn nhà chỉ có 13 hộ bán).
- Thực trạng chế biến và tiêu thụ: Người dân chế biến chủ yếu bằng phương pháp thủ công (phơi khô, sao khô, hạ thổ, ngâm rượu hoặc nấu cao). Hoạt động khai thác mang tính tự phát, triệt để (đặc biệt với các loài rễ, củ và toàn cây có giá trị thương phẩm cao như Tam thất, Hà thủ ô, Hoằng đằng, Kim tuyến, Ba gạc), dẫn tới nguy cơ suy giảm trữ lượng tự nhiên nghiêm trọng.
Kết quả và đóng góp
Kết quả định lượng chi tiết
Dữ liệu khảo sát thực địa phản ánh mức độ tham gia thu hái của người dân địa phương đối với các loài LSNG chủ yếu:
PHÂN BỐ 128 LOÀI LSNG THEO CÔNG DỤNG
| Nhóm công dụng |
Bộ phận thu hái |
Số loài |
Tỷ lệ (%) |
Loài tiêu biểu và số hộ tham gia thu hái ($n=100$) |
| Dược liệu (80 loài) |
Cả cây, thân, dây |
51 |
63,75 |
Lông cu li (30 hộ), Nhân trần (35 hộ), Kim tuyến (24 hộ), Nhọ nồi (24 hộ), Trinh nữ (21 hộ), Thông đất (15 hộ), Tam thất (12 hộ). |
|
Rễ, củ |
14 |
17,50 |
Hà thủ ô (35 hộ), Sắn dây (22 hộ), Ba gạc (17 hộ), Bình vôi (15 hộ), Cỏ tranh (13 hộ), Hoàng tinh trắng (11 hộ), Đảng sâm (9 hộ). |
|
Lá |
9 |
11,25 |
Lá khôi (20 hộ), Ké hoa vàng (18 hộ), Xương sông (18 hộ), Cam thảo đất (9 hộ), Cỏ lào (5 hộ). |
|
Quả, hạt |
4 |
5,00 |
Sa nhân (39 hộ), Dứa rừng (11 hộ), Mã tiền lông (3 hộ), Thảo đậu khấu (3 hộ). |
|
Vỏ |
2 |
2,50 |
Ngũ gia bì (18 hộ), Chân chim (11 hộ). |
| Thực phẩm (48 loài) |
Cả cây, thân, lá |
35 |
72,92 |
Măng Sặt (60 hộ), Măng Vầu (55 hộ), Rau dớn (42 hộ), Bò khai (35 hộ), Rau sắng (32 hộ), Chuối rừng (32 hộ), Rau má núi (16 hộ). |
|
Quả |
11 |
22,92 |
Sim (26 hộ), Trám đen (25 hộ), Trám trắng (25 hộ), Sấu (11 hộ), Dâu da đất (11 hộ), Dẻ gai (8 hộ), Thảo quả (6 hộ). |
|
Củ |
2 |
4,16 |
Củ mài (30 hộ), Nghệ nếp (20 hộ). |
Giải pháp tác giả đề xuất
- Bảo tồn và lựa chọn loài ưu tiên: Ưu tiên khoanh nuôi, bảo vệ nghiêm ngặt các loài quý hiếm, có nguy cơ cạn kiệt cao (Tam thất, Kim tuyến, Hoàng đằng, Hà thủ ô, Đẳng sâm, Bát giác liên, Bình vôi).
- Phát triển mô hình gây trồng: Hướng dẫn kỹ thuật nhân giống và đưa các loài cây thực phẩm, dược liệu bản địa có giá trị kinh tế cao vào trồng dưới tán rừng và vườn hộ (như Bò khai, Rau sắng, Sa nhân, Ba kích, Thạch đen).
- Tăng cường năng lực quản lý: Nâng cao vai trò kiểm tra, giám sát của lực lượng kiểm lâm; phối hợp chặt chẽ giữa Ban quản lý VQG và chính quyền 5 xã nhằm ngăn chặn khai thác tận diệt.
- Nâng cao nhận thức và sinh kế cộng đồng: Đẩy mạnh tuyên truyền bảo vệ rừng, tập huấn kỹ thuật thu hái bền vững (không khai thác cây non, thu hái chừa lại rễ/thân tái sinh), xây dựng chuỗi tiêu thụ sản phẩm tại chỗ.
Đóng góp của công trình
Khóa luận đã xây dựng được bộ dữ liệu điều tra thực địa cập nhật (2019–2020) với danh lục chi tiết 128 loài LSNG làm dược liệu và thực phẩm; ghi nhận cụ thể mùa vụ, bộ phận thu hái và mức độ sử dụng của cộng đồng 5 dân tộc tại VQG Phia Oắc – Phia Đén, tạo cơ sở thực chứng phục vụ công tác bảo tồn tài nguyên thực vật rừng đặc dụng.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của đề tài
- Nghiên cứu chỉ tập trung tại 5 xã/thị trấn vùng đệm và vùng lõi thuộc huyện Nguyên Bình với quy mô khảo sát 100 hộ dân, chưa bao quát toàn bộ các vùng lân cận của tỉnh Cao Bằng.
- Việc điều tra tập trung vào thành phần loài, hình thức khai thác và tri thức bản địa; chưa có điều kiện thực hiện các phân tích định lượng chuyên sâu về hoạt chất hóa sinh hoặc thí nghiệm nhân giống quy mô lớn ngoài thực địa.
Hướng nghiên cứu tiếp theo
- Nghiên cứu quy trình kỹ thuật nhân giống vô tính và hữu tính cho các loài LSNG quý hiếm, có giá trị kinh tế cao tại địa phương.
- Đánh giá trữ lượng sinh khối tự nhiên của các nhóm loài ưu tiên trên toàn bộ diện tích VQG.
- Xây dựng mô hình chuỗi giá trị và liên kết tiêu thụ sản phẩm LSNG đạt chuẩn an toàn, giúp người dân nâng cao thu nhập ổn định.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng thụ hưởng:
- Sinh viên, học viên chuyên ngành Quản lý tài nguyên rừng, Lâm sinh, Sinh thái học, Thực vật học tham khảo về phương pháp luận điều tra LSNG và thiết kế ô tiêu chuẩn theo đai cao.
- Cán bộ kỹ thuật tại các Vườn quốc gia, Khu bảo tồn thiên nhiên và Chi cục Kiểm lâm tham khảo dữ liệu thực địa để xây dựng phương án quản lý rừng bền vững.
- Chính quyền địa phương cấp huyện, xã làm căn cứ lập quy hoạch phát triển nông - lâm nghiệp, chuyển đổi cơ cấu cây trồng dưới tán rừng.
- Nội dung đáng tham khảo nhất: Danh mục 128 loài LSNG kèm chi tiết bộ phận sử dụng, mùa vụ thu hái và các bảng tổng hợp tần suất khai thác thực tế của người dân bản địa.
Câu hỏi thường gặp
Đề tài đã ghi nhận được bao nhiêu loài lâm sản ngoài gỗ làm dược liệu và thực phẩm?
Nghiên cứu đã thống kê được 128 loài LSNG được người dân địa phương sử dụng, trong đó có 80 loài sử dụng làm dược liệu (chiếm 62,5%) và 48 loài sử dụng làm thực phẩm (chiếm 37,5%).
Những bộ phận nào của cây được khai thác nhiều nhất đối với từng nhóm công dụng?
- Đối với nhóm dược liệu: Khai thác cả cây, thân và dây chiếm tỷ lệ lớn nhất với 51 loài (63,75%), tiếp theo là rễ và củ với 14 loài (17,50%).
- Đối với nhóm thực phẩm: Khai thác cả cây, thân và lá chiếm ưu thế tuyệt đối với 35 loài (72,92%), tiếp theo là khai thác quả với 11 loài (22,92%).
Mạng lưới điều tra thực địa trên các tuyến được bố trí như thế nào?
Tác giả đã lập tổng cộng 32 tuyến điều tra tại 5 xã/thị trấn (Tĩnh Túc 7 tuyến, Hưng Đạo 6 tuyến, Quang Thành 6 tuyến, Phan Thanh 6 tuyến, Thành Công 7 tuyến). Cứ mỗi 100m chênh cao theo địa hình (từ độ cao 700m đến 1.931m) lập 1 ô tiêu chuẩn kích thước $10\text{m} \times 10\text{m}$ ($100\text{m}^2$) để kiểm tra sự phân bố và mật độ loài.
Tình hình nguồn gốc thu hái LSNG của 100 hộ dân khảo sát diễn ra ra sao?
Cả 100 hộ dân được phỏng vấn đều thu hái LSNG từ rừng tự nhiên (trong đó có 83 hộ có bán sản phẩm ra thị trường). Khai thác từ vườn nhà chỉ tập trung ở một số ít loài rau ăn và cây thuốc thông dụng với 13 hộ bán ra thị trường.
Những loài LSNG nào được người dân thu hái phổ biến nhất tại VQG Phia Oắc – Phia Đén?
Các loài có số lượng hộ tham gia thu hái cao nhất gồm có: Măng Sặt (60 hộ), Măng Vầu (55 hộ), Rau dớn (42 hộ), Sa nhân (39 hộ), Hà thủ ô (35 hộ), Nhân trần (35 hộ), Bò khai (35 hộ), Rau sắng (32 hộ), Chuối rừng (32 hộ) và Củ mài (30 hộ).
Kết luận
Khóa luận đã hoàn thành việc điều tra, thống kê toàn diện hiện trạng 128 loài lâm sản ngoài gỗ dùng làm dược liệu và thực phẩm tại VQG Phia Oắc – Phia Đén giai đoạn 2019–2020. Nghiên cứu chỉ rõ áp lực khai thác tự do từ rừng tự nhiên đang làm suy giảm nhiều loài cây thuốc và rau rừng có giá trị kinh tế cao. Các nhóm giải pháp về bảo tồn loài ưu tiên, phát triển mô hình gây trồng dưới tán rừng kết hợp nâng cao năng lực quản lý kiểm lâm là căn cứ thiết thực hỗ trợ địa phương bảo tồn đa dạng sinh học và cải thiện sinh kế cộng đồng bền vững.