Luận văn nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp sử dụng bền vững lâm sản ngoài gỗ làm dược liệu và thực phẩm tại vườn quốc gia phia oắc phia đén huyện nguyên bình

Nghiên cứu thực trạng và giải pháp sử dụng bền vững lâm sản ngoài gỗ làm dược liệu và thực phẩm tại vườn quốc gia Phia Oắc - Phia Đén.

Chuyên ngành

Lâm Nghiệp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận/Đề tài
68
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Cơ sở khoa học

1.2. Tình hình nghiên cứu LSNG

2. CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về giải pháp sử dụng bền vững lâm sản ngoài gỗ

Lâm sản ngoài gỗ (LSNG) đóng vai trò quan trọng trong việc bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển kinh tế bền vững tại Vườn quốc gia Phia Oắc - Phia Đén. Việc khai thác và sử dụng hợp lý LSNG không chỉ giúp bảo vệ môi trường mà còn tạo ra nguồn thu nhập cho cộng đồng địa phương. Tuy nhiên, thực trạng khai thác LSNG hiện nay đang gặp nhiều thách thức, cần có các giải pháp cụ thể để đảm bảo sự phát triển bền vững.

1.1. Định nghĩa và phân loại lâm sản ngoài gỗ

Lâm sản ngoài gỗ bao gồm tất cả các sản phẩm sinh vật không phải gỗ, như thực phẩm, dược liệu, và các sản phẩm khác từ rừng. Việc phân loại LSNG giúp xác định rõ giá trị và ứng dụng của từng loại sản phẩm, từ đó có phương pháp quản lý hiệu quả hơn.

1.2. Tình hình khai thác lâm sản ngoài gỗ tại Phia Oắc Phia Đén

Tại Vườn quốc gia Phia Oắc - Phia Đén, việc khai thác LSNG chủ yếu diễn ra dưới hình thức tự phát, dẫn đến tình trạng suy giảm nguồn tài nguyên. Nhiều loài thực vật quý hiếm đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng do khai thác quá mức.

II. Vấn đề và thách thức trong quản lý lâm sản ngoài gỗ

Quản lý lâm sản ngoài gỗ tại Vườn quốc gia Phia Oắc - Phia Đén đang đối mặt với nhiều thách thức. Việc thiếu quy hoạch và chính sách bảo vệ hiệu quả đã dẫn đến tình trạng khai thác bừa bãi. Ngoài ra, sự thiếu hiểu biết của cộng đồng về giá trị của LSNG cũng là một vấn đề lớn.

2.1. Tác động của khai thác bừa bãi đến đa dạng sinh học

Khai thác bừa bãi không chỉ làm giảm số lượng các loài thực vật mà còn ảnh hưởng đến hệ sinh thái rừng. Nhiều loài động vật cũng bị ảnh hưởng do mất môi trường sống, dẫn đến sự suy giảm đa dạng sinh học.

2.2. Thiếu chính sách bảo vệ và phát triển bền vững

Chính sách bảo vệ lâm sản ngoài gỗ hiện tại chưa đủ mạnh để ngăn chặn tình trạng khai thác trái phép. Cần có các biện pháp cụ thể để bảo vệ nguồn tài nguyên này, đồng thời khuyến khích phát triển bền vững.

III. Phương pháp bảo tồn và phát triển lâm sản ngoài gỗ

Để bảo tồn và phát triển bền vững lâm sản ngoài gỗ, cần áp dụng các phương pháp khoa học và thực tiễn. Việc kết hợp giữa bảo tồn và phát triển kinh tế là rất cần thiết để đảm bảo lợi ích lâu dài cho cộng đồng.

3.1. Giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học

Cần thực hiện các chương trình bảo tồn đa dạng sinh học tại Vườn quốc gia Phia Oắc - Phia Đén. Việc bảo vệ các loài thực vật quý hiếm và môi trường sống của chúng là rất quan trọng để duy trì hệ sinh thái.

3.2. Phát triển kinh tế từ lâm sản ngoài gỗ

Phát triển các sản phẩm từ lâm sản ngoài gỗ như dược liệu và thực phẩm có thể tạo ra nguồn thu nhập cho cộng đồng. Cần có các chương trình đào tạo và hỗ trợ kỹ thuật để người dân có thể khai thác và chế biến sản phẩm một cách bền vững.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu

Nghiên cứu về lâm sản ngoài gỗ tại Vườn quốc gia Phia Oắc - Phia Đén đã chỉ ra rằng việc sử dụng bền vững LSNG có thể mang lại nhiều lợi ích cho cộng đồng. Các sản phẩm từ LSNG không chỉ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng mà còn góp phần bảo vệ môi trường.

4.1. Kết quả từ các mô hình phát triển bền vững

Các mô hình phát triển bền vững từ lâm sản ngoài gỗ đã cho thấy hiệu quả rõ rệt trong việc nâng cao thu nhập cho người dân. Những mô hình này cần được nhân rộng và áp dụng rộng rãi hơn.

4.2. Đánh giá tác động môi trường từ việc sử dụng lâm sản ngoài gỗ

Việc sử dụng lâm sản ngoài gỗ một cách hợp lý không chỉ giúp bảo vệ môi trường mà còn tạo ra giá trị kinh tế cho cộng đồng. Cần có các nghiên cứu đánh giá tác động môi trường để đảm bảo sự phát triển bền vững.

V. Kết luận và hướng đi tương lai cho lâm sản ngoài gỗ

Việc sử dụng bền vững lâm sản ngoài gỗ tại Vườn quốc gia Phia Oắc - Phia Đén là một nhiệm vụ cấp thiết. Cần có sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng, cộng đồng và các tổ chức phi chính phủ để thực hiện các giải pháp bảo tồn và phát triển hiệu quả.

5.1. Tầm quan trọng của việc bảo tồn lâm sản ngoài gỗ

Bảo tồn lâm sản ngoài gỗ không chỉ giúp duy trì đa dạng sinh học mà còn góp phần vào phát triển kinh tế bền vững. Cần nâng cao nhận thức của cộng đồng về giá trị của LSNG.

5.2. Định hướng phát triển lâm sản ngoài gỗ trong tương lai

Định hướng phát triển lâm sản ngoài gỗ cần tập trung vào việc xây dựng các chính sách hỗ trợ và khuyến khích người dân tham gia vào các hoạt động bảo tồn và phát triển bền vững.

23/07/2025
Luận văn nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp sử dụng bền vững lâm sản ngoài gỗ làm dược liệu và thực phẩm tại vườn quốc gia phia oắc phia đén huyện nguyên bình

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Cơ sở khoa học 1.1 Một số định nghĩa về lâm sản ngoài gỗ. Tử xưa đến nay đã có nhiều tên gọi khác nhau về lâm sản ngoài gỗ được sử dụng rộng rãi như: lâm sản phụ, lâm sản phi gỗ, sản phẩm không phải là gỗ. Trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, ở Việt nam lâm sản được phân chia thành hai loại: - Lâm sản chính (principale richesse forestière) là những sản phẩm gỗ; - Sản phẩm phụ của rừng hay lâm sản phụ (produit secondaire de la forêt), bao gồm động vật và thực vật cho những sản phẩm ngoài gỗ. Từ 1961, lâm sản phụ được coi trọng và được mang tên đặc sản rừng.

“Đặc sản rừng bao gồm cả thực vật và động vật rừng là nguồn tài nguyên giầu có của đất nước. Nó có vị trí quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa, trong đời sống nhân dân, quốc phòng và xuất khẩu…” (Bộ Lâm nghiệp - Kế hoạch phát triển Đặc sản rừng, 1981-1990). Theo định nghĩa đó Đặc sản rừng là một bộ phận của tài nguyên rừng nhưng chỉ tính đến những sản phẩm có công dụng hoặc giá trị đặc biệt và ngoài các loài thực vật dưới tán rừng còn bao gồm các loài cây cho gỗ đặc hữu hoặc được coi là đặc hữu của Việt Nam, như Pơ mu, Hoàng đàn, Kim giao… , như vậy thuật ngữ đặc sản cũng mang ý nghĩa kinh tế, vì không tính đến những sản phẩm không có hoặc chưa biết giá trị. Vì thế, danh mục những đặc sản rừng trong từng thời điểm cũng tập trung sự chú ý vào một số sản phẩm nhất định.

Ngày nay, trong Lâm nghiệp thuật ngữ lâm sản ngoài gỗ được dùng phổ biến, chính thức thay cho thuật ngữ lâm sản phụ (minor forest product/ secondary forest product). Định nghĩa của thuật ngữ này được thông qua trong hội nghị tư vấn lâm nghiệp Châu Á-Thái Bình Dương tại Băng Cốc, 5-8-1991: “Lâm sản ngoài gỗ (Non-wood forest product) bao gồm những sản phẩm tái tạo được ngoài gỗ, củi và than gỗ. Lâm sản ngoài gỗ được lấy từ rừng, đất rừng hoặc từ những cây thân gỗ”. Do đó, không được coi là LSNG những sản phẩm như cát, đá, nước, dịch vụ du lịch sinh thái.

5 - Lâm sản ngoài gỗ bao gồm “tất cả các sản phảm sinh vật (trừ gỗ tròn công nghiệp, gỗ làm dăm, gỗ làm bột giấy) có thể lấy ra từ hệ sinh thái tự nhiên, rừng trồng được dùng trong gia đình, mua bán hoặc có ý nghĩa tôn giáo, văn hóa hoặc xã hội”. Việc sử dụng hệ sinh thái cho mục đích giải trí, bảo tồn thiên nhiên, quản lý vùng đệm… thuộc về lĩnh vực dịch vụ của rừng” (Wichens, 1991). - Trong hội nghị các chuyên gia LSNG của các nước vùng Châu Á, Thái Bình Dương họp tại Bangkok, Thái Lan từ ngày 5-8/11/1991 đã thông qua định nghĩa về LSNG như sau: “Lâm sản ngoài gỗ (Non-wood forest products) bao gồm tất cả các sản phẩm cụ thể, có thể tái tạo, ngoài gỗ, củi và than. Lâm sản ngoài gỗ được khai thác từ rừng, đất rừng hoặc từ các cây thân gỗ” - Thực vật rừng gồm tất cả các loài cây, loài cỏ dây leo bậc cao và bậc thấp phân bố trong rừng.

Những loài cây không cho gỗ hoặc ngoài gỗ còn cho các sản phẩm quý khác như nhựa Thông, quả Hồi, vỏ Quế hoặc sợi Song mây là thực vật đặc sản rừng” (Lê Mộng Chân, Vũ Dũng, 1992). - LSNG là tất cả những sản phẩm có nguồn gốc sinh vật không kể gỗ cũng như những dịch vụ có được từ rừng và đất rừng. Dịch vụ trong định nghĩa này như là những hoạt động từ du lịch sinh thái, làm dây leo, thu gom nhựa và các hoạt động liên quan đến thu hái và chế biến những sản phẩm này (FAO, 1995). - LSNG bao gồm các nguyên liệu có nguồn gốc sinh vật, không phải là gỗ, được khai thác từ rừng để phục vụ con người.

Chúng bao gồm thực phẩm , thuốc, gai vị, tinh dầu, nhựa, nhựa mủ, tanin, thuốc nhuộm, cây cảnh, động vật hoang dã (còn sống hay sản phẩm của chúng), củi và các nguyên liệu thô như tre, nứa, song, mây, gỗ nhỏ và sợi (J. - LSNG là các sản phẩm nguồn gốc sinh vật, loại trừ gỗ lớn, có ở rừng, ở đất rừng và các cây bên ngoài rừng (FAO, 1999). - Theo Trần Ngọc Hải (2000): Lâm sản ngoài gỗ bao gồm tất cả các vật liệu sinh học khác gỗ được khai thác từ rừng (hiểu theo nghĩa rộng gồm rừng tự nhiên và rừng trồng) phục vụ mục đích của con người. Bao gồm các loài thực vật, động vật dùng làm thực phẩm, làm dược liệu, tinh dầu, nhựa sáp, nhựa dính, nhựa mủ, cao su, tanin, màu nhuộm, chất béo, cây cảnh, nguyên liệu giấy, sợi… 6 - Theo Vũ Tiến Hinh và Phạm Văn Điển (2003): Lâm sản ngoài gỗ bao gồm tất cả các sản phẩm có nguồn gốc sinh học và các dịch vụ thu được từ rừng hoặc từ bất kỳ vùng đất nào có kiểu sử dụng đất tương tự, loại trừ gỗ lớn ở tất cả các hình thái của nó.

Theo các định nghĩa như đã nêu ở trên, LSNG là một phần tài nguyên rừng. Như vậy, đi tìm chỉ một định nghĩa cho LSNG là không thể. Định nghĩa này có thể thay đổi phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, xã hội, vào quan điểm sử dụng, phát triển tài nguyên và nhu cầu khác. Các loại sản phẩm ngoài gỗ sẽ ngày càng được tăng lên do sự tìm tòi, phát hiện giá trị của chúng để phục vụ cuộc sống cho con người, chúng gồm các sản phẩm qua chế biến hoặc không cần qua chế biến.

Phân loại lâm sản ngoài gỗ - Phân loại LSNG theo hệ thống sinh giới: Theo phân loại kinh điển, sinh giới được chia là hai giới chính: Động vật và thực vật. Giới động vật và giới thực vật, tuy rất phong phú và đa dạng nhưng đều có thể sắp xếp một cách khách quan vào hệ thống các bậc phân loại từ lớn đến nhỏ: Giới\Ngành\Lớp\Bộ\Họ\Chi\Loài. Ưu điểm của cách phân loại này là thấy được mối quan hệ thân thuộc giữa các loài và nhóm loài cùng sự tiến hóa của chúng. Phương pháp phân loại này chú ý nhiều đến đặc điểm sinh học của loài.

Nhược điểm là đòi hỏi người sử dụng phải có những hiểu biết nhất định về phân loại động, thực vật (Lê Mộng Chân, Lê Thị Huyên, 2000). - Phân loại LSNG theo nhóm giá trị sử dụng: Là cách phân loại mà các LSNG khác nhau không kể nguồn gốc trong hệ thống sinh giới, nơi phân bố… có cùng giá trị sử dụng thì được xếp trong cùng một nhóm. Ví dụ: Một hệ thống phân loại LSNG thực vật theo nhóm công dụng như sau: - Nhóm cây cho lương thực, thực phẩm; - Nhóm cây cho sợi - Nhóm cây cho ta-nanh - Nhóm cây cho màu nhuộm - Nhóm cây làm dược liệu - Nhóm cây cho nhựa, sáp, sơn - Nhóm cây dùng làm vật liệu nhẹ và thủ công mỹ nghệ - Nhóm cây làm cảnh, cho bóng mát. 7 Ưu điểm của phương pháp phân loại này là đơn giản, dễ áp dụng và sử dụng nhiều kiến thức bản địa của người dân, nên người dân dễ nhớ, đồng thời khuyến khích được họ tham gia trong quá trình quản lý tài nguyên.

Ngoài ra phương pháp này cũng được các nhà kinh doanh, nhà nghiên cứu LSNG quan tâm. Nhược điểm của phương pháp phân loại này là chỉ mới nhấn mạnh tới giá trị sử dụng, mà chưa đề cập đến đặc điểm sinh vật học (đặc điểm hình thái, sinh thái, phân bố…) của các loài, nên khả năng nhận biết các loài gặp nhiều khó khăn hơn nữa một số loài có nhiều công dụng khi phân loại dễ bị trùng vào nhiều nhóm khác nhau. Hệ thống phân loại khác lại dựa vào các sản phẩm LSNG, như hệ thống phân loại đã thông qua trong Hội nghị LSNG Thái Lan, tháng 11/1991 (Bài giảng Lâm sản ngoài gỗ, 2002. Dự án LSNG, Hà Nội).

Trong hệ thống này lâm sản ngoài gỗ được chia làm 6 nhóm: - Nhóm 1: Các sản phẩm có sợi: tre nứa, song mây, lá và thân có sợi và các loại cỏ. - Nhóm 2: Sản phẩn làm thực phẩm: các sản phẩm nguồn gốc thực vật: thân, chồi, rễ, củ, lá, hoa, quả, quả hạch, gia vị, hạt có dầu và có nấm. Các sản phẩm nguồn gốc động vật: mật ong, thịt động vật rừng, cá, trai ốc, tổ chim ăn được, trứng và côn trùng. - Nhóm 3: Thuốc và mỹ phẩm có nguồn gốc thực vật - Nhóm 4: Các sản phẩm chiết xuất: gôm, nhựa dầu, nhựa mủ, ta-nanh và thuốc nhuộm, dầu béo và tinh dầu.

- Nhóm 5:: Động vật và các sản phẩm từ động vật không làm thực phẩm: tơ, động vật sống, chim, côn trùng, lông mao, lông vũ, da, sừng, ngà, xương và nhựa cánh kiến đỏ. - Nhóm 6: Các sản phẩm khác: như lá Bidi (lá thị rừng dùng gói thuốc lá ở Ấn Độ). Bốn năm sau, chuyên gia về lâm sản ngoài gỗ của FAO, C.Chandrasekharan (FAO, 1995) đã đề xuất hệ thống phân loại lâm sản ngoài gỗ gồm 4 nhóm chính như sau: - Cây sống và các bộ phận của cây - Động vật và các sản phẩm của động vật - Các sản phẩm được chế biến (các gia vị, dầu thực vật…) - Các dịch vụ rừng. 8 Ở Việt Nam, khung phân loại lâm sản ngoài gỗ đầu tiên được chính thức thừa nhận bằng văn bản đó là: “Danh mục các loài đặc sản rừng được quản lý thống nhất theo ngành”.

Đây là văn bản kèm theo Nghị định 160 - HĐBT ngày 10/12/1984 của Hội đồng bộ trưởng về việc thống nhất quản lý các đặc sản rừng (nay gọi là lâm sản ngoài gỗ). Theo danh mục này đặc sản rừng được chia làm 2 nhóm lớn: Hệ cây rừng và Hệ động vật rừng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ