CHƯƠNG 1 :CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ THUẾ GTGT VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ GTGT 1.1 Khái niệm về chung về thuế và thuế GTGT 1. Khái niệm chung về thuế Thuế là khái niệm rất quen thuộc với mọi người, nhưng hiểu rõ về thuế thì người ta lại ít quan tâm.Trong thực tế, thuế là một hiện tượng xã hội do con người đặt ra, nó găn liền với đời sống kinh tế xã hội, với nhà nước và pháp luật. Thuế ra đời do nhu cầu chi tiêu của nhà nước và sự tồn tại của nó không tách rời quyền lực nhà nước. Cũng có thể nói, sự ra đời và tồn tại của thuế gắn liền với sự ra đời và tồn tại của nhà nước.
Do đó, thuế là một phạm trù kinh tế, đồng thời là phạm trù lịch sử. Với những quan điểm như trên cho thấy, nhà nước và thuế là hai phạm trù gắn bó hữu cơ với nhau. Theo tài liệu[29] nhà nước tồn tại tất yếu phải có thuế để đảm bảo điều kiện vật chất cho sự tồn tại và hoạt động của nhà nước. Thuế có thể thu bằng tiền, hiện vật hoặc bằng ngày công lao động.
Xét về nội dung vật chất, thuế là một bộ phận của cải xã hội tập trung vào quỹ NSNN, mà thực chất là một bộ phận của cải từ khu vực tư được chuyển vào khu vực công, nhằm trang trải những kinh phí để duy trì sự tồn tại, hoạt động của bộ máy nhà nước và các chi phí công cộng. Về bản chất kinh tế, thuế phản ánh quan hệ phân phối của cải xã hội dưới hình thức giá trị giữa nhà nước với các chủ thể khác trong xã hội. Các quan hệ kinh tế này được nảy sinh một cách khách quan giữa nhà nước và các chủ thể khác trong xã hội, đặc biệt là các pháp nhân và các thể nhân.Trong đó các pháp nhân, thể nhân phải chuyển giao bắt buộc một phần của cải của mình cho nhà nước theo đúng quy định do chính nhà nước đề ra mà không gắn với bất kỳ một ràng buộc nào về sự hoàn trả số thuế đã nộp, hoặc cung cấp trực tiếp hàng hoá hay dịch vụ cho người nộp thuế từ phía nhà nước. Như vậy có thể hiểu thuế là hình thức động viên bắt buộc của nhà nước theo luật định, thuộc phạm trù phân phối nhằm tập trung một bộ phận thu nhập của các Trần Văn Hải 5 CHQTKD 2011A Luận văn thạc sĩ QTKD thể nhân và pháp nhân vào NSNN, để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu của nhà nước và phục vụ cho lợi ích công cộng.
Chức năng của thuế Thuế với những chức năng của mình đảm bảo cho nền kinh tế phát triển tạo nên nền móng vững chắc cho nhà nước.Thuế có ba chức năng cơ bản[18]. - Thứ nhất: Là công cụ chủ yếu trong việc tập trung nguồn lực vào NSNN để đảm bảo cho các chi tiêu của nhà nước. - Thứ hai: Là công cụ điều tiết nền kinh tế thị trường góp phần bảo đảm sự phát triển ổn định, cân đối của nền kinh tế. - Thứ ba: Là công cụ quan trọng góp phần tái phân phối thu nhập nhằm thực hiện công bằng xã hội.
Cả ba chức năng đều rất quan trọng trong quản lý nhà nước, chức năng quan trọng và cũng là chức năng khó thực hiện nhất chính là chức năng thứ nhất. Để tập trung được các nguồn lực vào NSNN và đảm bảo cho các chỉ tiêu của nhà nước đòi hỏi sự nỗ lực cố gắng về chủ trương, đường lối, chính sách của ngành thuế nói riêng và các cấp các ngành phối hợp nói chung. Phân loại thuế Số lượng các sắc thuế trong hệ thống thuế của các quốc gia là không giống nhau, nó tuỳ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội và mục tiêu xây dựng hệ thống thuế quốc gia trong giai đoạn cụ thể. Tuy vậy, để phân tích tác động của thuế đến các quá trình kinh tế - xã hội nhằm xây dựng điều chỉnh hệ thống thuế cho phù hợp người ta có thể lựa chọn các tiêu thức khác nhau để phân loại[2]: - Phân loại theo khả năng chuyển giao thuế, có thuế trực thu và thuế gián thu.
+ Thuế trực thu là loại thuế xác định đối tượng chịu thuế đồng thời cũng là đối tượng nộp thuế như thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân,. + Thuế gián thu là loại thuế mà đối tượng nộp thuế và đối tượng chịu thuế khác nhau như: thuế tiêu thu đặc biệt, thuế GTGT, thuế xuất nhập khẩu. - Phân loại thuế theo đối tượng đánh thuế: Trần Văn Hải 6 CHQTKD 2011A Luận văn thạc sĩ QTKD Theo cách phân loại này thuế có thể chia thành các loại: + Thuế tài sản là thuế đánh vào bản thân tài sản chứ không đánh vào phần thu nhập phát sinh từ tài sản đó. Các loại thuế tài sản gồm: thuế nhà đất, thuế vốn, thuế chuyển nhượng tài sản.
+ Thuế đánh vào thu nhập là thuế chỉ đánh vào những đối tượng có thu nhập như: thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân. + Thuế tiêu dùng là loại thuế đánh vào phần thu nhập của người tiêu dùng sản phẩm hàng hoá bị đánh thuế như thuế GTGT, thuế tiêu thụ đặc biệt. + Thuế đánh trên hoạt động là thuế đánh trên các hoạt động kinh tế như: thuế môn bài đánh vào hoạt động kinh doanh. Khái niệm thuế GTGT Thuế GTGT- tiếng anh là Value Added Tax(VAT) – là loại thuế được tính trên giá trị tăng thêm của hàng hoá dịch vụ phát sinh từ sản xuất lưu thông đến tiêu dùng[2].
Chỉ người bán hàng hoá dịch vụ lần đầu phải nộp thuế GTGT trên toàn bộ doanh thu bán hàng hoá dịch vụ đó. Vì thuế GTGT được đánh trên giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ nên đối tượng đánh thuế là hàng hoá, dịch vụ. Đối tượng nộp thuế là cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ còn đối tượng chịu thuế là người tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ đó. Theo tài liệu[29] thuế GTGT được áp dụng ở một vài nước Tây Âu từ những năm 50 của thế kỷ XX: năm 1954, Chính phủ Pháp chính thức ban hành thuế GTGT nhằm hạn chế việc thu thuế chồng chéo lên thuế, với thuế suất đồng loạt 20% và chỉ khấu trừ thuế ở khâu trước đối với nguyên liệu, vật liệu.
Đến năm 1966, các nước châu Âu chính thức ban hành thuế GTGT thay thế một số sắc thuế gián thu. Đến nay trên thế giới đã có hơn 100 nước áp dụng thuế GTGT. Thuế GTGT là thuế tính trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hoá dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng. Như vậy, thuế GTGT có tên gọi là cơ sở tính thuế, là loại thuế có đối tượng đánh thuế là hàng hoá, dịch vụ.
Tại mỗi khâu sản xuất cung ứng dịch vụ, thuế GTGT chỉ tính trên khoản giá trị Trần Văn Hải 7 CHQTKD 2011A Luận văn thạc sĩ QTKD tăng thêm của hàng hoá dịch vụ ở từng khâu mà không đánh vào phần giá trị đã chịu thuế ở khâu trước nên cách tính thuế là rất khoa học, rất cần thiết đối với sự phát triển sản xuất theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá và phù hợp với yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế. Các yếu tố cấu thành của thuế GTGT Thuế GTGT bao gồm thành tố sau: - Tên gọi của Luật Thuế GTGT: dựa trên cơ sở tính thuế là giá trị tăng thêm của hàng hoá dịch vụ qua mỗi khâu sản xuất kinh doanh hàng hoá dịch vụ. - Cơ sở đánh thuế của thuế GTGT: là các đối tượng tiêu dùng hàng hoá trong xã hội đều phải nộp một khoản thuế nhất định, khoản thuế này phải nộp vào NSNN thông qua nhà sản xuất, cung ứng hàng hoá và dịch vụ. - Thuế suất thuế GTGT: Thuế GTGT là loại thuế có ít thuế suất và thuế suất thấp, tuỳ theo chính sách thuế của từng quốc gia mà thuế suất thường giao động từ 5% đến 20%.
- Đối tượng nộp thuế GTGT: là nhà sản xuất, cung ứng dịch vụ. Đối tượng nộp thuế có nghĩa vụ thu số tiền thuế của người tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ để nộp vào NSNN. - Đối tượng chịu thuế GTGT: là người tiêu dùng hàng hoá và dịch vụ. Mọi tổ chức cá nhân khi tiêu dùng hàng hoá và dịch vụ thuộc diên tính thuế đều phải trả ngay một khoản thuế khi thanh toán mua hàng, trừ một số đối tượng tiêu dùng đặc biệt được miễn thuế.
- Đối tượng đánh thuế đối với thuế GTGT: là hàng hoá và dịch vụ - Quy trình khai báo và nộp thuế GTGT: Việc kê khai nộp thuế GTGT được thực hiện khi phát sinh quan hệ mua và bán hàng hoá chịu thuế GTGT. Tuy nhiên, để đơn giản hoá thì thuế GTGT thường được kê khai nộp vào một kỳ nhất định. Theo quyết định số 1201/TCT/QĐ/TCCB ngày 26 tháng 7 năm 2004 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế[21] - quy trình quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể thì hộ ổn định thuế lập thông báo thuế cho cả kỳ ổn định thuế, hộ mới ra kinh Trần Văn Hải 8 CHQTKD 2011A Luận văn thạc sĩ QTKD doanh, thời gian kê khai và nộp tờ khai chậm nhất là ngày 20 của tháng bắt đầu kinh doanh; đối với hộ đang thu thuế ổn định đã hết hạn ổn định, thời gian kê khai và nộp tờ khai chậm nhất là ngày 20 của tháng cuối kỳ ổn định. Vai trò của thuế GTGT đối với hộ kinh doanh cá thể 1.
Vị trí vai trò của kinh tế cá thể trong nền kinh tế thị trường Sự tồn tại nhiều thành phần, nhiều hình thức sở hữu trong nền kinh tế là một tất yếu khách quan, bởi vì nền kinh tế ở các nước chậm và đang phát triển là nền kinh tế có lực lượng sản xuất kém phát triển với nhiều trình độ khác nhau. Tương ứng với các trình độ đó là các hình thức sở hữu, tổ chức sản xuất thích hợp. Chính việc thừa nhận sự tồn tại khách quan của nhiều thành phần kinh tế, từ đó khai thác tốt các tiềm năng nhằm phát triển lực lượng sản xuất cho đất nước. Từ cơ sở lý luận và thực trạng của nền kinh tế nước ta, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI[16] chỉ rõ: “Nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần, kinh tế xã hội chủ nghĩa bao gồm khu vực quốc doanh, kinh tế tập thể, kinh tế gia đình và các thành phần kinh tế khác gồm kinh tế tiểu sản xuất hàng hoá, kinh tế tư bản tư nhân”.