MỞ ĐẦU Sự suy giảm đa dạng sinh học đã và đang là mối lo chung của toàn nhân loại. Trong nhiều nguyên nhân gây tổn thất đa dạng sinh học thì các loài SVNLXH đƣợc coi là một trong những mối đe dọa nguy hiểm nhất. Chúng đang ngày càng mở rộng khu phân bố, cạnh tranh gay gắt đến mức hủy diệt các loài bản địa, làm mất cân bằng sinh thái tự nhiên. Các loài SVNLXH có mặt trong hầu hết các nhóm sinh vật, từ vi sinh vật, nấm, thực vật bậc cao đến các loài động vật.
Trong các loài ngoại lai xâm hại thì thực vật ngoại lai là một trong những nhóm có mức nguy hại lớn do chúng có khả năng phát tán nhanh chóng và gây xâm lấn, hủy diệt các loài bản địa. Việt Nam đƣợc đánh giá là một trong 15 nƣớc có đa dạng sinh học (ÐDSH) cao trên thế giới. Nhƣng do tác động của nhiều yếu tố tự nhiên, ô nhiễm môi trƣờng, sinh vật ngoại lai xâm nhập, nhất là tác động của con ngƣời qua các hình thức nhƣ phá rừng, khai thác quá mức. đƣợc coi là những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng suy giảm ÐDSH ngày một gia tăng.
Thống kê cho thấy, cả nƣớc hiện có hơn 21 nghìn loài thực vật; gần 16 nghìn loài động vật; 3.000 loài vi sinh vật và nấm tập trung chủ yếu tại một số khu vực có ÐDSH cao, nhƣ: Dãy núi Hoàng Liên Sơn, Bắc Trƣờng Sơn, Tây Nguyên, vùng Ðông Nam Bộ. Tuy nhiên, Việt Nam cũng nhƣ nhiều nƣớc trên thế giới, đang phải đối mặt tình trạng suy giảm trầm trọng các hệ sinh thái giàu ÐDSH. Tổng số các loài động vật, thực vật hoang dã trong thiên nhiên của nƣớc ta đang bị đe dọa hiện nay là 882 loài (đƣợc ghi trong Sách Ðỏ năm 2007), tăng 161 loài so với lần xuất bản Sách Ðỏ trƣớc đây (năm 1992 - 1996). Ðáng lo ngại, hiện có chín loài động vật (tê giác hai sừng, bò xám, heo vòi, cầy rái cá, cá chép gốc, cá chình Nhật, cá lợ thân thấp, hƣơu sao, cá sấu hoa cà) và hai loài lan hài đƣợc xem là đã tuyệt chủng ngoài tự nhiên.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 Số liệu thống kê của Cục Bảo tồn ÐDSH (Tổng cục Môi trƣờng) cho thấy: Có 94 loài thực vật và 48 loài động vật thủy sinh ngoại lai xâm hại. Ðặc biệt, có những loài thủy sinh vật ngoại lai vào Việt Nam với số lƣợng lớn, nhƣ Ốc bƣơu vàng, loài Mai dƣơng., do không đƣợc kiểm soát, kiểm tra chặt chẽ cho nên đã xảy ra tình trạng bùng phát trong tự nhiên. Hậu quả, các loài ngoại lai này lấn át, làm suy giảm các loài sinh vật, nguồn gien, phá vỡ cấu trúc, chức năng của hệ sinh thái. Phá hại mùa màng, giảm năng suất cây trồng, vật nuôi, thậm chí ảnh hƣởng sức khỏe con ngƣời.
Văn Quan là một huyện miền núi nằm ở phía tây cách thành phố Lạng Sơn 30 km trên trục đƣờng quốc lộ 1B từ Lạng Sơn đi Thái Nguyên. Diện tích rừng chiếm phần lớn với nhiều loài cây gỗ quý nhƣ: Đinh, Nghiến, Lát…Tuy nhiên trong những năm gần đây sự phát triển nhanh chóng của thực vật ngoại lai đã có ảnh hƣởng không nhỏ đến các loài thực vật bản địa, gây suy giảm đa dạng sinh học, mất cân bằng sinh thái. Xuất phát từ những lý do đó, đề tài “Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp quản lý thực vật xâm hại trên địa bàn huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn” đƣợc thực hiện nhằm đánh giá sơ bộ đƣợc thực trạng về tình hình phát triển, những ảnh hƣởng của các loài thực vật xâm hại đến đa dạng thực vật và đề xuất quản lý thực vật xâm hại trên địa bàn huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn góp phần hạn chế sự phát triển của thực vật xâm hại, bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ môi trƣờng và phát triển bền vững. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Tổng quan về sinh vật ngoại lai – Thực vật ngoại lai xâm hại Khái niệm về sinh vật ngoại lai xâm hại (Invasive Alien Species) đã đƣợc nhiều tác giả định ngh a và sử dụng với nhiều tên gọi khác nhau nhƣ sinh vật ngoại lai xâm hại, sinh vật gây hại lạ 21. Sinh vật xâm hại trƣớc hết nó là loài sinh vật ngoại lai đƣợc du nhập tới hệ sinh thái nhất định, gây ra những tổn hại về kinh tế, môi trƣờng và sức khỏe con ngƣời[27]. Sinh vật ngoại lai: Trong một hệ sinh thái nhất định, bất kể một loài nào dù là cây con, trứng, bào tử hoặc cơ quan sinh dƣỡng của loài đó mà không có nguồn gốc tự nhiên từ hệ sinh thái đó 27. Nhƣ vậy, thực vật ngoại lai xâm hại có thể đƣợc định ngh a nhƣ sau: Trƣớc hết nó là loài thực vật ngoại lai đƣợc du nhập tới hệ sinh thái mới, gây ra những tổn hại về kinh tế, môi trƣờng và sức khỏe con ngƣời.
Khái niệm này đã đƣợc quy định tại Luật Đa dạng sinh học năm 2008 nhƣ sau: Loài ngoại lai là loài sinh vật xuất hiện và phát triển ở khu vực vốn không phải là môi trƣờng sống tự nhiên của chúng. Loài ngoại lai xâm hại là loài ngoại lai lấn chiếm nơi sinh sống hoặc gây hại đối với các loài sinh vật bản địa, làm mất cân bằng sinh thái tại nơi chúng xuất hiện và phát triển. Ngoài ra, các khái niệm trên cũng đã đƣợc Công ƣớc Đa dạng sinh học (CBD) đề cập nhƣ sau: Sinh vật ngoại lai là loài, phân loài hay đơn vị phân loại thấp hơn đƣợc đƣa ra khỏi vùng phân bố tự nhiên của chúng, kể cả các bộ phận bất kỳ của sinh vật nhƣ các giao tử (gametes), hạt thực vật, trứng động vật hay chồi mầm LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 của những loài này có thể sống sót và sau đó sinh sản đƣợc. SVNLXH là loài sinh vật ngoại lai đã tạo lập đƣợc quần thể và phát tán, đe dọa các hệ sinh thái, nơi ở hoặc loài sinh vật khác, gây ra những tác hại về kinh tế và môi trƣờng [31].
Tất cả các nhóm sinh vật (virus, nấm, tảo, rêu, dƣơng xỉ, thực vật bậc cao, động vật không xƣơng sống, cá, lƣỡng cƣ, b sát, chim, thú) đều có nguy cơ trở thành sinh vật ngoại lai xâm hại 31. Phần lớn sinh vật xâm hại là loài ngoại lai nhƣng không phải loài ngoại lai nào cũng trở thành loài xâm hại. Nhiều loài sinh vật ngoại lai đang là nguồn lƣơng thực cần thiết trong đời sống của chúng ta (thí dụ nhƣ khoai tây, ngô,…). Mặt khác, loài bản địa cũng có thể trở thành loài xâm hại trong những điều kiện có sự thay đổi của môi trƣờng (nhƣ sự chăn thả quá mức, cháy rừng, thay đổi chế độ dinh dƣỡng, sự chiếm nơi ở của một số loài xâm hại,.
Thí dụ, loài keo bản địa của Uganda là Acacia học trở thành loài xâm hại ở nhiều vùng đồng cỏ sau sự giảm số lƣợng các động vật lớn là những tác nhân tự nhiên kìm hãm loài keo này 27. Theo số liệu của Chƣơng trình sinh vật ngoại lai xâm hại toàn cầu (GISP), trên thế giới có khoảng 22.000 loài thực vật xâm hại trên tổng số 250.000 loài thực vật, có ngh a là chiếm tỷ lệ hơn 11%. Theo Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế - IUCN, 2001: SVNLXH là một loài sinh vật ngoại lai đã thích nghi và phát triển trong một hệ sinh thái hoặc nơi sống tự nhiên hoặc nửa tự nhiên mới là nguyên nhân gây ra sự thay đổi và đe dọa đa dạng sinh học bản địa. Ở Việt Nam hiện tƣợng loài ngoại lai xâm hại đã xuất hiện từ những năm 1990 và gây những hậu quả nghiêm trọng.
Điều 8, khoản 8 của Công ƣớc Đa dạng sinh học đã kêu gọi các bên cùng tham gia công ƣớc: “Ngăn chặn sự du nhập, kiểm soát hoặc diệt trừ các loài ngoại LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 lai gây hại cho các hệ sinh thái, nơi sống hoặc các loài sinh vật bản địa”. Điển hình nhƣ loài Mai dƣơng (Mimosa pigra) xâm lấn dày đặc, tạo thành những vùng tập trung với diện tích khá lớn, mật độ dày ở nhiều vùng đất bán ngập dọc các đƣờng lộ hay các mƣơng nƣớc tại khu vực đồng bằng ven biển phía Nam tỉnh Thừa Thiên Huế. Loài Mai dƣơng còn cạnh trạnh với các loại thực vật bản địa về chỗ ở và thức ăn nên dẫn đến nguy cơ làm thay đổi thành phần của thảm thực vật bản địa, giảm sút tính đa dạng sinh học, thậm chí tiêu diệt các loài bản địa. Nơi loài cây này phát triển thì mật độ các loài chim, bò sát, thực vật thân thảo… giảm nhiều so với thảm thực vật bản địa.
Bên cạnh đó, loài Mai dƣơng có chứa độc tố minosine với hàm lƣợng 0,2% so với trọng lƣợng khô của lá, có thể gây nguy hiểm cho động vật bản địa. Đặc điểm chung của các SVNLXH *Loài SVNLXH là tác nhân chính gây ra những xáo động trong các hệ sinh thái Thành phần các loài sinh vật của một hệ sinh thái (HST) cụ thể tại bất cứ mọi địa điểm và từng thời gian nhất định sẽ tùy thuộc vào điều kiện hiện tại của môi trƣờng, vào mức độ và dạng xáo động đang xảy ra, sự xuất hiện và biến mất của các loài sinh vật trong HST đó và vào thành phần của nguồn cung cấp các loài sinh vật trong khu vực. Con ngƣời thƣờng có nhiều tác động và gây ra những biến đổi trong các HST trong việc thúc đẩy sự tạo thành của các loài SVNLXH các tác động của con ngƣời thể hiện trên các phƣơng diện: - Đẩy nhanh sự thay đổi môi trƣờng sống, các điều kiện tồn tại của các loài sinh vật. - Tăng trƣởng mạnh mẽ việc vận chuyển có chủ định và không có chủ định các loài sinh vật trên khắp thế giới.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 - Làm tăng các loài sinh vật ở các khu vực, đồng thời làm giảm loài bản địa và dẫn đến làm giảm số lƣợng các loài trên thế giới. Sự tổ hợp tác động của các nhân tố trên đây tạo nên những biến đổi cơ bản trong các HST. Những loài sinh vật có đặc điểm phù hợp giành đƣợc lợi thế từ những xáo động trong HST, thƣờng có đƣợc khả năng tồn tại và phát triển mạnh.