MỞ ĐẦU 1. TÍNH CÁP THIẾT Sử dụng đất cho hoạt động mai táng ở các nghĩa trang nghĩa địa là một nhu cầu tự nhiên có từ hàng chục ngan năm cua xã hội loài người ở mọi nền văn hóa. Da phần quan điểm chôn người chết chính là cách thé hiện sự tôn trọng người đã khuất, đem lại cho họ một "nơi an nghỉ cuối cùng", ngăn những động vật ăn xác và cũng là cách xử lý thi thể phân hủy, tránh ô nhiễm nguy hiểm sức khỏe cộng đồng. Bằng chứng đầu tiên của ngôi mộ có chủ ý như vậy được tìm thấy với người Neanderthal và người hiện đại bắt đầu từ khoảng 90.000 năm trước đây tại vùng Cận Đông, châu Âu [135].
Ở Trung Quốc thì không có thói quen chôn người chết vào thời đầu và giữa của thời kỳ đồ đá cũ, cuối thời kỳ đồ đá cũ (khoảng 35.000 năm trước Công nguyên), tục chôn người chết mới xuất hiện không xa hiện nay [102]. Như vậy, từ chết mà không táng cho đến mai táng là một sự tiến bộ văn minh của loài người, vì xã hội đã bắt đầu thể hiện sự tôn kính đối với người chết và có lẽ là một niềm tin vào thế giới bên kia, điều này có thể ảnh hưởng bởi tín ngưỡng theo nén tảng các tôn giáo. Ở Việt Nam, quan niệm mai táng người chết cũng chịu những sự ảnh hưởng theo các quan niệm chung của nhiều nước trên thế giới, nhất là các nước thuộc các nền văn hóa Á đông. Đất nghĩa trang nghĩa địa đang trở thành van dé lớn của các đô thị ở Việt Nam.
Hơn ba thập niên qua, cùng với sự tăng nhanh dân số, sự phát triển đô thị và công nghiệp mạnh mẽ, nhu cầu đất cho nghĩa địa cũng được mở rộng. Tuy nhiên quá trình xây dựng nghĩa trang nghĩa địa cho đến nay cơ bản theo kiểu tự phát bám theo các khu dân cư, đô thị, việc quy hoạch và quản lý khoa học còn rất ít. Việc xây dựng nghĩa trang và vận hành theo quy hoạch còn hạn chế. Công tác quản lý nhà nước về quy hoạch sử dụng đất nghĩa trang nghĩa địa gặp nhiều khó khăn, đã và đang tạo nên nhiều vấn đề kể cả trong quản lý tài nguyên đất và môi trường.
Năm 2019 cả nước có khoảng 106.991 ha đất nghĩa trang nghĩa địa, chiếm 1 0,32 % diện tích tự nhiên toàn quốc và tăng 9.941 ha so với kỳ kiểm kê năm 2005. Riêng Thành phó Hồ Chí Minh (Tp.HCM) có 927 ha đất nghĩa trang nghĩa địa, tăng 03 ha so với năm 2005, Thành phố và cũng là một trong 27 địa phương có tỷ trọng đất nghĩa trang nghĩa địa so với diện tích tự nhiên cao hơn tỷ trọng đất nghĩa địa toàn quốc. Theo dự báo đến năm 2025, Thành phố sẽ vượt 10 triệu dân và trở thành siêu đô thị, vì vậy đòi hỏi Thành phố phải sử dụng quỹ đất thật tiết kiệm nhưng vẫn phải đáp ứng nhu cầu đất cho quy hoạch nghĩa trang nghĩa địa. Thành phố Hỗồ Chí Minh là một trung tâm lớn về kinh tế, văn hoá, khoa học, công nghệ, đầu mối giao lưu quốc tế quan trọng.
Thành phố có vai trò đầu tàu kinh tế của Vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam và của cả nước. Trong những năm qua nền kinh tế của Thành phó đã phát triển với tốc độ tăng trưởng cao, thu hút mạnh mẽ đầu tư trong, ngoài nước. Nhu cầu sử dụng đất của Tp.HCM cho việc phát triển những khu, cụm công nghiệp, hệ thống đường giao thông, mạng lưới các khu dân cư, công trình phúc lợi công cộng và cơ sở hạ tầng khác tăng lên không ngừng. Dat dai trở thành van đề sôi động và phức tạp ở tat cả quận, huyện trên toàn Thành phó.
Thành phó Hồ Chí Minh có diện tích 2.095 km? (2019), bằng 0,63 % diện tích toàn quốc nhưng dân số cao nhất nước (năm 2019 có 9.600 người đăng ký chính thức), là địa phương có tốc độ tăng trưởng GDP mỗi năm gấp 1,5 lần so với tốc độ tăng trưởng GDP bình quân của cả nước, đặc biệt nguồn thu đóng góp hàng năm cho ngân sách quốc gia luôn chiếm gần 30 %. Điều đó cho thấy quy theo giá trị kinh tế, mỗi đơn vị đất đai của Thành phố hiệu quả cao hơn bất cứ địa phương nào trong 62 tỉnh, thành khác của cả nước. Hiện nay, việc quản lý tổng hợp tài nguyên và môi trường đất trong hoạt động nghĩa trang và nghĩa địa nói chung và trên địa bàn Tp.HCM nói riêng, còn nhiều bat cập, do công tác quy hoạch quản lý sử dụng đất nghĩa trang còn chậm; đồng thời, dân số tăng nhanh và các khu nghĩa trang nghĩa địa cũ quá tải, trong khi địa táng vẫn là hình thức mai táng phổ biến trên phạm vi cả nước, từ đó đã tác động đến tất cả kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường ở cả khu vực đô thị và nông thôn của Thành Phó. Từ thực tiễn sử dụng đất nghĩa trang nghĩa địa, nhìn nhận trong phạm vi Tp.HCM có 05 vấn đề cần quan tâm, làm cơ sở cho Nghiên cứu sinh thực hiện việc nghiên cứu: (1) Việc quy hoạch sử dụng đất nghĩa trang nghĩa địa cho một Thành Phố ngày một phát triển cả quy mô nền kinh tế và dân số còn nhiều bất cập, đòi hỏi điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất nghĩa trang nghĩa địa.
(2) Phan lớn nghĩa trang nghĩa địa cũ của Thành phố đều tồn tại trong khu dân cư. Các nghĩa trang nghĩa địa nằm trong khu dân cư có thể ảnh hưởng đến hoạt động đô thị, đến môi trường đất và sức khỏe cộng đồng dân cư xung quanh. (3) Phong tục tập quán về sử dụng đất nghĩa trang nghĩa địa (địa táng) hiện nay tại Tp.HCM vẫn ở mức cao và khó kiểm soát. Tình trạng tiếp tục mở rộng, chôn cất tại các nghĩa trang nghĩa địa hiện hữu của các tổ chức hội đoàn, cơ sở tôn giáo, gia tộc gây áp lực cho việc phát triển chung của Thành Phố.
(4) Chính sách pháp luật về quy hoạch quản lý sử dụng đất nghĩa trang nghĩa địa tại Thành phó còn nhiều bất cập cần phải được cải tiến. Thành phó chưa có nghĩa trang Nhân dân mới, việc di dời, cải tạo các nghĩa trang nghĩa địa cũ còn chậm. (5) Các giải pháp quản lý tổng hợp tài nguyên và môi trường đất trong hoạt động nghĩa trang và nghĩa địa tại Thành phó còn nhiều bat cập, cần phải cải tiến. Nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng đất hợp lý ở Tp.HCM có ý nghĩa quan trọng vì đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá đối với Thành phố nói riêng và cả nước nói chung, nhất là khi dân số có xu hướng tăng cao mà quỹ đất có hạn.
Việc quản lý và sử dụng đất nghĩa trang nghĩa địa có hiệu quả, không dé đất bi ô nhiễm, suy thoái và tác động xấu đến môi trường, đồng thời nâng cao nhận thức của cộng đồng về thay đồi hình thức táng. cũng góp phần đáng kể đề chống ô nhiễm và sử dụng đất tiết kiệm ở Thành phó. Do đó, yêu cầu cấp bách đặt ra là tiếp tục đổi mới, hoàn thiện công tác quản lý theo định hướng tổng hợp, kết hợp quy hoạch sử dụng dat nghĩa trang nghĩa địa với bảo vệ môi trường. Xuất phát từ yêu cầu trên, Nghiên cứu sinh thực hiện đề tài: “Đánh giá hiện trạng 3 và xây dựng các giải pháp quản lý tổng hợp tài nguyên và môi trường đất trong hoạt động nghĩa trang và nghĩa dia tại Thành phố Hô Chi Minh” nhằm làm sáng tỏ về mặt khoa học và thực tiễn các ảnh hưởng của hoạt động nghĩa trang nghĩa địa lên tài nguyên và môi trường, xây dựng các giải pháp quản lý sử dụng tài nguyên và môi trường đất trong hoạt động nghĩa trang và nghĩa địa cho khu vực.
MỤC TIÊU Mục tiêu tổng quát Mục tiêu tổng quát của dé tài là: Đánh giá hiện trạng sử dụng đất nghĩa trang nghĩa địa trên địa bàn Tp.HCM; các ảnh hưởng của hoạt động nghĩa trang nghĩa địa đến các yếu tố kinh tế - xã hội, môi trường trong khu vực; đề xuất các giải pháp quản lý tổng hợp tài nguyên và môi trường đất trong hoạt động nghĩa trang và nghĩa địa tại Thành phố, nhằm góp phần sử dụng tài nguyên đất tiết kiệm, đáp ứng nhu cầu mai táng và bảo vệ môi trường. Mục tiêu cụ thể (1) Đánh giá hiện trạng sử dụng đất nghĩa trang nghĩa địa và việc thực hiện quy hoạch quản lý sử dụng đất nghĩa trang nghĩa địa trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. (2) Đánh giá sự ảnh hưởng của hoạt động nghĩa trang nghĩa địa đến môi trường đất khu vực có nghĩa trang nghĩa địa ở Tp.HCM bằng điều tra các chỉ tiêu môi trường đất xung quanh khu vực nghĩa trang nghĩa địa. (3) Đề xuất các giải pháp quản lý tổng hợp tài nguyên và môi trường đất trong hoạt động nghĩa trang và nghĩa địa tại Thành phố, nhằm sử dụng đất tiết kiệm, hiệu quả và phát triển bền vững.
ĐÓI TƯỢNG Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: (1) Các khu đất nghĩa trang nghĩa địa có chôn cất với quy mô khác nhau ở Tp. 4 (2) Tác động của hoạt động nghĩa trang nghĩa địa lên môi trường đất trong khu vực xung quanh. (3) Ảnh hưởng của đất nghĩa trang nghĩa địa với kinh tế - xã hội. (4) Việc quản lý sử dụng đất nghĩa trang nghĩa địa của người sử dụng đất và chính sách pháp luật, quy định của Nhà nước về quy hoạch quản lý sử dụng đất nghĩa trang nghĩa địa.
PHẠM VỊ Phạm vi nghiên cứu của đề tài: - Phạm vi không gian: Thành phố Hồ Chí Minh, trên thực tế là tại 5 huyện ngoại thành (Bình Chánh, Củ Chi, Hóc Môn, Nhà Bè, Cần Giờ), 4 quận ven (Quận 12, Gò Vấp, Tân Phú, Bình Tân) và thành phố Thủ Đức của Thành phố Hồ Chí Minh, đây là những quận, huyện, thành phố có hoạt động nghĩa trang nghĩa địa chính của Thành Phó, diện tích nghĩa trang nghĩa địa có từ 10 ha trở lên: huyện Nhà Bè có diện tích nghĩa trang nghĩa địa thấp nhất là 12 ha, huyện Củ Chi có diện tích nghĩa trang nghĩa địa cao nhất 409 ha. - Phạm vi thời gian: Các số liệu thu thập trong giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2017. Theo quy định của Luật Đất đai, kỳ quy hoạch kế hoạch sử dụng đất và kiểm kê đất đai là 5 năm (2010 - 2015, 2015 - 2019) nên phạm vi thời gian từ 2010 đến 2017 sẽ có số liệu biến động đất đai của kỳ quy hoạch kế hoạch sử dụng đất gần nhất (2010 - 2019) đề so sánh với các kỳ quy hoạch trước và số liệu hai năm tiếp theo, mới nhất là năm 2019 0, 5.